Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với các vùng đồng bằng ven biển trên toàn thế giới. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, nếu mực nước biển dâng 1 m, Việt Nam sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Khu vực Đồng bằng sông Hồng với gần 400 km bờ biển, biên độ dao động triều xấp xỉ 2 m và hơn 30% diện tích có cao trình dưới 2,5 m so với mực nước biển, là một trong những địa bàn dễ bị tổn thương nhất trước nguy cơ ngập lụt và xâm nhập mặn.

Trong bối cảnh đó, tỉnh Nam Định – một trọng điểm nông nghiệp của Đồng bằng sông Hồng với diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 67,73% (đạt 113.001,88 ha), trong đó đất chuyên trồng lúa nước là 73.876,83 ha – đang chịu tác động nặng nề bởi thiên tai và biến đổi khí hậu. Theo kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia, khi mực nước biển dâng từ 50 cm đến 100 cm, diện tích đất có nguy cơ ngập tại Nam Định sẽ dao động từ 26,0% lên tới 58,0%. Huyện ven biển Giao Thủy với 32 km bờ biển, diện tích tự nhiên 328,18 km2 và nằm giữa hai cửa sông lớn là Ba Lạt và Hà Lạn, là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định (Decision Support System - DSS) nhằm đánh giá định tính, định lượng nguy cơ ngập lụt và ước tính thiệt hại kinh tế đối với đất nông nghiệp tại huyện Giao Thủy theo các mốc thời gian 2020, 2030, 2040 và 2050. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác đáng, hỗ trợ các nhà quản lý địa phương tối ưu hóa việc phân vùng sử dụng đất và xây dựng kế hoạch thích ứng dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) được phát triển bởi Gorry và Morton (1971), Keen và Scott Morton (1978), cùng mô hình cấu trúc 3 thành phần kinh điển của Sprague và Carlson (1982). Khung cấu trúc này bao gồm: Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) lưu trữ số liệu khí tượng, thổ nhưỡng và kinh tế; Hệ quản lý cơ sở mô hình (MBMS) đảm nhiệm tính toán diện tích ngập và thiệt hại tài chính; và Hệ giao diện người dùng (DGMS) kết nối trao đổi thông tin trực quan giữa mô hình tính toán và nhà quản lý.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung đánh giá rủi ro và tổn thương do biến đổi khí hậu theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5) của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Nghiên cứu tập trung vào kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình (RCP4.5) và cao (RCP8.5). Về mặt kinh tế học môi trường, luận văn vận dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng (Extended Cost-Benefit Analysis) có tính đến hệ số chiết khấu tài chính để lượng hóa giá trị thiệt hại kinh tế trực tiếp đối với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp (LUTs).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp có độ tin cậy cao. Dữ liệu thứ cấp kế thừa từ bộ số liệu thống kê đất đai năm 2015 của tỉnh Nam Định (tổng diện tích 166.853,93 ha), quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, chuỗi số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 1961–2014, cùng bản đồ số địa hình cập nhật. Cỡ mẫu điều tra xã hội học và khảo sát thực địa được thực hiện trên 60 cán bộ quản lý cấp huyện, cấp xã và đại diện các hộ nông dân ven biển. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) tại các xã trọng điểm chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của ngập lụt và xâm nhập mặn như Giao An, Giao Xuân và Bạch Long.

Phương pháp phân tích không gian dựa trên Hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám được ứng dụng để chồng xếp lớp bản đồ cao trình địa hình với các kịch bản mực nước biển dâng, giúp xác định chính xác ranh giới ngập của 8 loại đất nông nghiệp. Để xây dựng công cụ DSS, tác giả lựa chọn ngôn ngữ lập trình Visual Basic for Applications (VBA) tích hợp trực tiếp trên nền tảng Microsoft Excel. Lý do lựa chọn công nghệ này là vì tính linh hoạt cao, tận dụng khả năng tính toán bảng biểu mạnh mẽ của Excel, không yêu cầu phần cứng chuyên dụng hay chi phí bản quyền đắt đỏ, giúp các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và tỉnh dễ dàng tiếp nhận, vận hành và cập nhật dữ liệu định kỳ theo mức giá cố định năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, xâm nhập mặn và biến đổi các yếu tố cực đoan diễn biến ngày càng phức tạp tại huyện Giao Thủy. Kết quả đo đạc thực tế ghi nhận độ mặn trên sông Vọng tại xã Bạch Long lên tới 15,9‰, sông Hồng tại xã Giao Hương đạt 4,6‰ và phà Ngô Đồng là 2,1‰. Thống kê toàn tỉnh Nam Định ghi nhận 8.765 ha đất bị nhiễm mặn, bao gồm 265 ha đất lúa, 950 ha đất trồng rau màu và 3.000 ha đầm nuôi trồng thủy sản. Mực nước sông xuống thấp vào mùa cạn khiến thời gian mở cống lấy nước ngọt tưới tiêu giảm mạnh từ 70% đến 80%, chỉ còn đạt khoảng 1,5 đến 3 giờ mỗi ngày.

Thứ hai, nguy cơ ngập lụt đe dọa trực tiếp đến an ninh quỹ đất nông nghiệp ven biển. Theo kịch bản RCP8.5, mực nước biển khu vực Hòn Dấu – Đèo Ngang dâng 72 cm vào cuối thế kỷ 21. Tại Giao Thủy, diện tích đất nông nghiệp vùng bãi bồi ven biển lên tới 4.939,09 ha (trong đó đất nuôi trồng thủy sản chiếm 3.150,25 ha, đất lâm nghiệp chiếm 1.740,47 ha) sẽ chịu mức độ ngập gia tăng liên tục qua các giai đoạn 2020, 2030, 2040 và 2050, làm biến đổi sâu sắc cấu trúc sinh thái của 6.811 ha vùng đệm và vùng lõi Vườn quốc gia Xuân Thủy.

Thứ ba, tổn thất kinh tế đối với sản xuất nông nghiệp và sinh kế địa phương là rất lớn. Các đợt cực đoan thời tiết trong quá khứ đã chứng minh tính dễ bị tổn thương cao của khu vực: đợt hạn hán năm 2010 làm 20% đến 80% vây nuôi ngao tại Giao Thủy bị chết, gây thiệt hại hơn 40 tỷ đồng; đợt rét đậm rét hại đầu năm 2011 làm chết 3.942 tấn thủy sản trên diện tích 4.239 ha. Công cụ DSS đã lượng hóa giá trị thiệt hại trung bình tính theo mặt bằng giá năm 2010, chỉ ra sự suy giảm nguồn thu nghiêm trọng trên các diện tích đất chuyên lúa nước và đất nuôi trồng thủy sản khi mức ngập tăng dần.

Thứ tư, nghiên cứu đã đóng gói thành công bộ phần mềm DSS với giao diện tương tác thân thiện. Công cụ cho phép người dùng lựa chọn kịch bản phát thải (RCP4.5 hoặc RCP8.5), mốc thời gian dự báo (2020–2050), và nền dữ liệu đất đai (hiện trạng 2010 hoặc quy hoạch 2020), từ đó tự động kết xuất bảng tổng hợp diện tích đất bị ảnh hưởng và giá trị thiệt hại kinh tế trực tiếp tương ứng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ngập úng và nhiễm mặn nghiêm trọng tại Giao Thủy bắt nguồn từ sự cộng hưởng giữa địa hình dốc thoải thấp dần từ Bắc xuống Nam, biên độ triều ven biển lớn (xấp xỉ 2 m) và sự suy giảm lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn sông Hồng trong mùa kiệt (chỉ đạt 0,95 tỷ m3 ở tần suất 95%). Hiện tượng này kết hợp với nước biển dâng đã đẩy ranh mặn 1‰ tiến sâu vào nội đồng cách biển từ 26 km đến 37 km.

So với các công cụ quốc tế như CATLoG (Úc) vốn đòi hỏi dữ liệu đầu vào phức tạp hoặc các nghiên cứu trong nước như CIMPACT-DST mới dừng lại ở đánh giá định tính quy hoạch đô thị, công cụ DSS của luận văn đã giải quyết triệt để bài toán lượng hóa kinh tế chi tiết cho từng phân loại đất nông nghiệp. Toàn bộ chuỗi dữ liệu đầu ra được thiết kế để trực quan hóa thông qua hệ thống bản đồ chuyên đề GIS phân vùng mức ngập, kết hợp biểu đồ cột chồng so sánh biến động diện tích ngập và biểu đồ đường thể hiện xu thế thiệt hại tài chính qua 4 mốc thời gian, giúp việc hoạch định chính sách trở nên trực quan và chuẩn xác.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu thiệt hại do nước biển dâng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Giao Thủy, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ thích ứng mặn: Tiến hành rà soát, chuyển đổi khoảng 2.429 ha đất lúa kém hiệu quả hoặc thường xuyên bị nhiễm mặn sang mô hình kết hợp lúa - rươi, nuôi trồng thủy sản nước lợ hoặc trồng cói; mục tiêu giảm 35% thiệt hại kinh tế do suy giảm năng suất lúa vào năm 2030; do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định phối hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Giao Thủy triển khai thực hiện.
  2. Nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống hạ tầng thủy lợi, đê điều: Đầu tư cải tạo 32 km đê biển và 46,4 km đê sông xung yếu tại Giao Thủy, hiện đại hóa các cống tiêu úng và ngăn mặn tự động (như cống Hà Lạn, cống Thức Hóa) đảm bảo năng lực vận hành khi mực nước triều dâng cao trên 50 cm; hoàn thành cơ bản trước năm 2030; do Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Nam Định chủ trì điều phối vốn đầu tư công.
  3. Phục hồi và phát triển đai rừng ngập mặn phòng hộ: Triển khai trồng mới và bảo vệ nghiêm ngặt 1.053,61 ha rừng đặc dụng và 722,91 ha rừng phòng hộ ven biển tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy, Cồn Lu, Cồn Ngạn; mục tiêu duy trì độ tán che rừng đạt trên 85% vào năm 2028 nhằm giảm sóng lở và bảo vệ đất bồi ven đê; do Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy phối hợp với Chi cục Kiểm lâm thực hiện.
  4. Thể chế hóa và ứng dụng công cụ DSS trong quy hoạch đất đai: Tích hợp công cụ phần mềm DSS vào quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất định kỳ 5 năm một lần của huyện; tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho 100% cán bộ địa chính - môi trường tại 22 xã, thị trấn huyện Giao Thủy trong giai đoạn 2024–2026; do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định chịu trách nhiệm tổ chức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và nông nghiệp: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định có thể sử dụng công cụ DSS để đánh giá rủi ro khí hậu phục vụ quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021–2030.
  2. Chính quyền địa phương cấp huyện ven biển: Lãnh đạo và phòng chuyên môn tại các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng ứng dụng kết quả tính toán thiệt hại để xây dựng phương án phòng chống thiên tai, bố trí nguồn lực đầu tư đê kè và tái định cư hợp lý.
  3. Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy và các tổ chức bảo tồn đất ngập nước khai thác số liệu xói lở, bồi tụ và diễn thế rừng ngập mặn 6.811 ha để xây dựng kế hoạch phục hồi sinh thái.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Các chuyên gia ngành Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên, GIS và Viễn thám sử dụng khung phương pháp kết hợp GIS - VBA Excel làm tài liệu giảng dạy và mở rộng nghiên cứu sang các lưu vực ven biển khác.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm vượt trội của công cụ DSS xây dựng trên nền VBA Excel so với các phần mềm quốc tế là gì?
    Công cụ tận dụng tối đa năng lực tính toán và đồ họa trực quan của Microsoft Excel kết hợp tự động hóa qua VBA, không đòi hỏi chi phí bản quyền phần mềm đắt đỏ hay máy trạm cấu hình cao như các hệ thống GIS chuyên sâu. Mô hình cho phép lượng hóa cụ thể diện tích ngập và thiệt hại kinh tế cho 8 loại đất nông nghiệp, rất dễ sử dụng và chuyển giao cho cán bộ quản lý cấp huyện.

  2. Mực nước biển dâng theo kịch bản RCP8.5 tác động như thế nào đến diện tích ngập tại Nam Định?
    Theo kịch bản RCP8.5, mực nước biển dâng 72 cm vào cuối thế kỷ 21. Ứng với các mức nước dâng từ 50 cm đến 100 cm, tỷ lệ diện tích có nguy cơ ngập của toàn tỉnh Nam Định tăng mạnh từ 26,0% lên tới 58,0%. Tại huyện Giao Thủy, toàn bộ 4.939,09 ha đất nông nghiệp bãi bồi ven biển cùng nhiều vùng đất lúa nội đồng sẽ đối mặt nguy cơ ngập triều thường xuyên.

  3. Tình trạng xâm nhập mặn hiện nay tại huyện Giao Thủy diễn biến nghiêm trọng ra sao?
    Xâm nhập mặn đã lấn sâu vào hệ thống sông nội đồng với độ mặn đo được tại sông Vọng lên tới 15,9‰, sông Hồng tại cống Hạ Miêu đạt 13,8‰. Toàn tỉnh Nam Định ghi nhận 8.765 ha đất bị nhiễm mặn, làm giảm số giờ mở cống lấy nước ngọt vùng triều xuống còn 1,5 đến 3 giờ mỗi ngày và ảnh hưởng tiêu cực đến 76.306 ha đất trồng lúa.

  4. Phương pháp nào được sử dụng để ước tính thiệt hại kinh tế do ngập lụt đối với đất nông nghiệp?
    Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng (Extended CBA) kết hợp tham vấn chuyên gia và điều tra thực địa. Toàn bộ giá trị sản phẩm mất mát trên từng hecta đất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản bị ngập được quy đổi về mặt bằng giá cố định năm 2010 và tính toán kèm hệ số chiết khấu dòng tiền qua từng giai đoạn dự báo.

  5. Kết quả nghiên cứu và công cụ DSS của luận văn có thể mở rộng áp dụng cho địa phương khác không?
    Hoàn toàn có thể mở rộng áp dụng. Cấu trúc mô hình DSS ba khối (DBMS, MBMS, DGMS) có tính tùy biến cao. Các địa phương ven biển có đặc điểm tự nhiên tương đồng tại Đồng bằng sông Hồng như Hải Hậu, Nghĩa Hưng hay tỉnh Thái Bình chỉ cần cập nhật cơ sở dữ liệu địa hình số và hiện trạng sử dụng đất là có thể vận hành công cụ hiệu quả.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định (DSS) trên nền tảng VBA Excel, giải quyết bài toán tích hợp giữa mô hình hóa nguy cơ ngập do nước biển dâng và đánh giá thiệt hại tài nguyên đất.
  • Cung cấp bức tranh toàn diện, chi tiết về mức độ tổn thương của huyện Giao Thủy với 8.765 ha đất nhiễm mặn và nguy cơ ngập lên đến 58,0% diện tích toàn tỉnh Nam Định theo kịch bản cực đoan.
  • Lượng hóa chính xác diện tích ngập và giá trị thiệt hại kinh tế trực tiếp cho 8 loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại các mốc thời gian 2020, 2030, 2040 và 2050 theo mặt bằng giá năm 2010.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp thích ứng đồng bộ từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, củng cố đê kè, phục hồi rừng ngập mặn đến ứng dụng phần mềm trong quy hoạch đất đai.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị, tạo tiền đề để các cơ quan quản lý chuyển đổi số công tác ứng phó biến đổi khí hậu trong giai đoạn 2024–2030.

Nghiên cứu mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ quản lý tài nguyên môi trường cấp cơ sở. Các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương ven biển cần nhanh chóng ứng dụng bộ công cụ DSS vào thực tiễn lập quy hoạch, nhằm chủ động bảo vệ quỹ đất sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội bền vững.