CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN PHI TÀI CHÍNH Chương này trình bày tổng quan về CBTT PTC bao gồm cơ sở lý thuyết, lý thuyết khung và các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng. Đầu tiên, Mục 1.1 trình bày cơ sở lý thuyết cơ bản liên quan đến thông tin PTC và CBTT PTC dưới góc độ của các nhà nghiên cứu trước, các quy định hiện hành tại Việt Nam và phương pháp đo lường mức độ CBTT PTC. Tiếp theo, Mục 1.2 trình bày các lý thuyết khung phổ biến liên quan đến CBTT PTC được đề xuất sử dụng trong nghiên cứu này. Cuối cùng, Mục 1.3 khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT PTC từ các nghiên cứu trước trên cơ sở các lý thuyết khung được đề cập ở Mục 1.1 Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin phi tài chính 1.1 Khái niệm thông tin phi tài chính Kể từ những năm 1990, các công ty trên thế giới bắt đầu thực hiện công bố các thông tin PTC ra thị trường (Skouloudis và cộng sự, 2014).
Kể từ đây, khái niệm thông tin PTC được quan tâm và nhắc đến rộng rãi. Girella (2018) khi xác định ranh giới giữa BCTC và báo cáo PTC đã cho rằng thông tin PTC là những vấn đề liên quan đến tính bền vững, quản trị và vốn trí tuệ. Dần theo thời gian, khái niệm thông tin PTC càng được nhắc đến trong nhiều nghiên cứu cũng như các báo cáo của các tổ chức với dưới nhiều dạng định nghĩa khác nhau (Dương Hoàng Ngọc Khuê, 2019). Từ năm 2008 đến năm 2015, những nhà nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những định nghĩa đa dạng về khái niệm thông tin PTC (Dương Hoàng Ngọc Khuê, 2019).
Tuỳ thuộc vào từng loại báo cáo, thông tin PTC có thể bao gồm các yếu tố môi trường, xã hội, quản trị công ty, kinh tế và đạo đức (ICAEW, 2008). Thông tin PTC bao gồm cả những dữ liệu định lượng và định tính về chính sách hoạt động kinh doanh và những kết 15 quả thực thi chính sách của công ty mà không có sự liên kết trực tiếp với hệ thống đăng ký tài chính (Admiraal và cộng sự, 2009). Gần đây, thông tin PTC được nhiều nhà nghiên cứu khác sử dụng gồm: tính bền vững, trách nhiệm công ty, môi trường, xã hội và quản trị công ty, đạo đức, nguồn lực con người, môi trường, sức khỏe và an toàn (E&Y, 2016). Đối với Liên minh Châu Âu, Chỉ thị 2014/95 (the EU Directive 2014/95) quy định các công ty lớn phải CBTT PTC – cách mà các DN vận hành và quản lý các vấn đề xã hội và môi trường bắt buộc từ năm 2017 (Mio và cộng sự, 2020).
Tại Việt Nam, gần đây thông tin PTC được định nghĩa là dữ liệu định tính hoặc định lượng, không được đo lường bằng các đơn vị tiền tệ, được báo cáo trong BCTN và BCPTBV (Dương Hoàng Ngọc Khuê, 2019). Về mặt quản lý nhà nước, hướng dẫn về CBTT trên TTCK cũng đã có những quy định đối với các DN trong việc báo cáo các thông tin PTC, cụ thể bao gồm môi trường, xã hội (liên quan đến người lao động và cộng đồng địa phương), quản trị công ty và các thông tin chung khác (Bộ Tài chính, 2015; 2020). Tóm lại, tiếp cận theo hướng dẫn về CBTT trên TTCK, theo Thông tư 155/2015/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2015) và Thông tư 96/2020/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2020), và trên cơ sở tổng hợp định nghĩa về thông tin PTC từ các nghiên cứu trước, luận văn này định nghĩa thông tin PTC bao gồm các thông tin về môi trường, xã hội, tính bền vững, đạo đức, quản trị và các thông tin PTC khác, được tồn tại dưới dạng dữ liệu định tính hoặc định lượng và không được đo lường bằng đơn vị tiền tệ.2 Vai trò của thông tin phi tài chính Ngày nay, bên cạnh thông tin tài chính, thông tin PTC được xem là một công cụ hiệu quả là để phát triển một cái nhìn toàn diện về hoạt động kinh doanh và tính bền vững của nó, đồng thời giảm rào cản thông tin giữa nhà quản lý và các bên có liên quan (Romito và Vurro, 2021). Chẳng hạn, trong báo cáo 16 năm 2017, Ernst & Young đã nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng gia tăng của thông tin PTC đối với các nhà đầu tư và các bên liên quan – những người thường đưa ra các quyết định dựa trên thông tin tài chính và PTC (Benlemlih và cộng sự, 2021).
Thông qua việc công bố các thông tin này, các công ty cung cấp thông tin rõ ràng và toàn diện về các chiến lược, hành động và hiệu suất của họ nhằm tạo ra, phát triển và duy trì sự chấp thuận của các bên liên quan (Carnevale và Mazzuca, 2014) và từ đó, cải thiện tính hợp pháp và danh tiếng của họ. Riêng đối với các DNSX, nghiên cứu điều tra của Omran và cộng sự (2021) chỉ ra rằng, các DNSX dành nhiều sự chú trọng vào chiến lược chất lượng sẽ có xu hướng công bố nhiều thông tin về chỉ số PTC đánh giá hiệu suất trong báo cáo hàng năm của họ và việc công bố các chỉ số PTC đánh giá hiệu suất này tác động tích cực đến hoạt động tài chính của công ty. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng thông tin PTC giúp việc đánh giá hiệu quả hoạt động và định giá công ty một cách chính xác hơn (Skouloudis và cộng sự, 2014). Những vụ bê bối kế toán nổi tiếng, tai nạn môi trường và các hoạt động phi đạo đức trong những năm qua đã làm gia tăng kỳ vọng của các thành phần xã hội khác liên quan đến hành vi kinh doanh có trách nhiệm.
Trong bối cảnh đó, thông tin PTC là một công cụ hợp pháp, có giá trị giúp nhà quản lý giảm thiểu các tác nhân xấu đến hình ảnh công ty và thuyết phục các bên liên quan rằng tổ chức đang hoạt động tốt để thực hiện kỳ vọng của họ (Farook và cộng sự, 2011). Thông tin PTC còn là nền tảng tạo nên lợi thế cạnh tranh của DN. Việc CBTT PTC có khả năng nâng cao danh tiếng của DN và cho thấy khả năng quản lý mức độ phức tạp của các hoạt động PTC và góp phần nâng cao giá trị DN (Benlemlih và cộng sự, 2021). Mặc dù CBTT PTC không trực tiếp mang lại lợi nhuận cho DN, nhưng đối với các đơn vị đang bị định giá thấp, thông tin 17 PTC dẫn đến phản ứng tích cực trên TTCK, giúp DN thu hút nhiều sự quan tâm và đầu tư từ các bên liên quan.
Thông tin PTC chủ yếu tập trung vào các mục tiêu dài hạn, cụ thể bao gồm chất lượng, thương hiệu, hình ảnh công ty, lòng trung thành của khách hàng và các vấn đề liên quan (Dương Hoàng Ngọc Khuê, 2019). Vậy nên việc các nhà quản lý đưa ra các quyết định mang tính chiến lược dựa trên nền tảng thông tin PTC là điều có thể lý giải được (Dominique, 2009). Do đó, dù không trực tiếp mang lại lợi nhuận (Benlemlih và cộng sự, 2021) thông tin PTC vẫn có tác động không nhỏ đến lợi nhuận thông qua việc phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty trên thị trường có tốt hay không, có thu hút được đầu tư hay không, từ đó tác động đến tình hình tài chính của DN (Dominique, 2009).3 Các hình thức công bố thông tin phi tài chính CBTT bao gồm công bố bắt buộc, công bố tùy ý và công bố tự nguyện (Nguyen, 2015; Dương Hoàng Ngọc Khuê, 2019). CBTT PTC là bắt buộc khi DN phải tuân thủ theo các quy định trong văn bản pháp luật của nhà nước; CBTT PTC tùy ý là một dạng của CBTT PTC bắt buộc nhưng thể hiện được chiều sâu của thông tin bắt buộc công bố và DN có quyền được lựa chọn mức độ công bố nhiều hay ít các thông tin này bởi chưa có quy định rõ ràng về mức độ công bố chi tiết (Nguyen, 2015; Nguyễn Hữu Cường và Dương Ngọc Như Quỳnh, 2019).
CBTT PTC được xem là tự nguyện nếu các thông tin này chưa được đề cập trong hệ thống văn bản pháp luật (Jackson và cộng sự, 2020; Benlemlih và cộng sự, 2021). Như đã đề cập ở trên, mục đích luận văn này nhằm nghiên cứu về mức độ CBTT PTC của các CTNY ở Việt Nam theo quy định của nhà nước, do đó, luận văn sẽ tập trung phân tích và tìm hiểu các cơ sở lý thuyết liên quan đến CBTT PTC bắt buộc. Công bố bắt buộc liên quan đến những nội dung DN công bố nhằm tuân thủ các điều lệ và quy định trong hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước 18 (Dương Hoàng Ngọc Khuê, 2019; Krasodomska và cộng sự, 2020). Sở dĩ CBTT PTC trở thành bắt buộc bởi các quốc gia đã và đang xem xét vai trò của chính phủ trong việc thể chế hoá trách nhiệm xã hội của DN (Albareda và cộng sự, 2007; Dentchev và cộng sự, 2017).
Các vai trò của chính phủ có thể được nhắc đến bao gồm ủy quyền, tạo điều kiện, hợp tác với các ngành nghề và công nhận (Fox và cộng sự, 2002). Chẳng hạn như khi chính phủ có những quy định lập pháp về cấm sử dụng lao động trẻ em, khuyến khích lao động bình đẳng, đặt ra quy định về bảo vệ môi trường thì các DN có thể được yêu cầu bắt buộc phải công bố những thông tin này. Khi nhà nước có những quy định bắt buộc thì công bố những thông tin PTC có liên quan được xem như một công cụ hỗ trợ chính phủ. Loại quy định này nhằm thúc đẩy tính minh bạch, làm giảm sự bất cân xứng về thông tin giữa DN và các bên liên quan (Hess, 2007).
Từ đó có thể thúc đẩy những thay đổi trong các hoạt động trách nhiệm xã hội DN, vì các công ty có thể tự đánh giá chính mình dễ dàng hơn trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh và thúc đẩy thảo luận về các tiêu chuẩn ngành. Quan trọng hơn, những quy định của chính phủ có thể trở nên hiệu quả hơn nếu được đi kèm với các hình thức khen thưởng hoặc trừng phạt đối với các hoạt động thiếu trách nhiệm của công ty (Dhaliwal và cộng sự, 2012; Fernandez-Feijoo và cộng sự, 2014). Do đó, hình thức CBTT PTC bắt buộc là cần thiết trong bối cảnh hiện nay.4 Các quy định về công bố thông tin phi tài chính tại Việt Nam Tuỳ theo quy định của mỗi quốc gia, các danh mục CBTT PTC có sự khác nhau nhất định. Ở nước ta, các DN phải CBTT (bao gồm thông tin tài chính và thông tin PTC) tuân thủ theo một số quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) (Bộ Tài chính, 2003; 2005) và các chế độ kế toán có liên quan.