Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Con người cá nhân trong tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai sau 1975" do sinh viên Phan Thanh Tâm thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Thị Thùy Dương tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023). Công trình thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, định hướng nghiên cứu lý luận và lịch sử văn học hiện đại.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ bước chuyển biến của văn học Việt Nam sau mốc lịch sử năm 1975. Khi chiến tranh kết thúc, văn học từng bước thoát khỏi mô hình tư duy phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng thuần túy để hòa nhập vào tinh thần dân chủ hóa, đi sâu vào hiện thực đời sống thế sự và đời tư. Con người trong văn học không còn được soi chiếu đơn chiều qua lăng kính sử thi hào hùng mà bộc lộ rõ tính chất phức tạp, đa đoan của bản thể cá nhân. Trong tiến trình đổi mới đó, Chu Lai nổi lên như một gương mặt tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết. Tiếp cận hệ thống tác phẩm của Chu Lai, tác giả khóa luận nhận thấy nhà văn đã kiến tạo một thế giới con người cá nhân độc đáo, vừa mang tính phổ quát của thời kỳ đổi mới, vừa mang đậm dấu ấn sáng tạo riêng biệt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể loại tiểu thuyết và tiến trình phát triển của quan niệm con người cá nhân trong văn học Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.
  2. Nhận diện, phân loại và phân tích các dạng thức biểu hiện của con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai sau 1975 trên phương diện nội dung tư tưởng (con người bi kịch, con người khao khát tính dục, con người tâm linh, con người lưỡng diện).
  3. Khảo sát và làm rõ các phương thức nghệ thuật được tác giả sử dụng để định hình nhân vật (không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, giọng điệu trần thuật và điểm nhìn nghệ thuật).

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hình tượng con người cá nhân trong tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai sau năm 1975. Về phạm vi nghiên cứu, dù Chu Lai sở hữu gia tài hơn 20 tiểu thuyết trong hơn 38 năm cầm bút, tác giả khóa luận giới hạn khảo sát trực tiếp trên văn bản của 12 tác phẩm tiêu biểu do điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu xuất bản, bao gồm: Ba lần và một lần, Cuộc đời dài lắm, Khúc bi tráng cuối cùng, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng, Bãi bờ hoang lạnh, Chỉ còn một lần, Phố, Hùng Karo, Mưa đỏ, Út Teng, Nắng đồng bằng. Ngoài ra, khóa luận mở rộng phạm vi đối sánh với các tác phẩm văn học giai đoạn trước 1975 để làm rõ sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống lý luận thi pháp thể loại tiểu thuyết, lịch sử văn học và triết học nhân sinh:

  • Lý thuyết thi pháp thể loại: Khóa luận tiếp thu luận điểm của nhà thi pháp học Mikhail M. Bakhtin (Lý luận và thi pháp tiểu thuyết) về đặc trưng thể loại: tiểu thuyết là thể loại gắn liền với thời hiện tại chưa hoàn thành, đồng chất với hiện thực đang vận động và có khả năng miêu tả quá khứ một cách khách quan như chính bản thân quá khứ mà không cần lý tưởng hóa. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng các kết quả nghiên cứu của Bùi Việt Thắng (Thi pháp tiểu thuyết hiện đại), Nguyễn Đức Hạnh (Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai), Nguyễn Thị Bình (Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 - Những đổi mới cơ bản), Nguyễn Văn Kha (Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 - 2000).
  • Quan niệm về bản chất con người: Khóa luận tổng hợp các góc nhìn triết học phương Đông, phương Tây, phân tâm học Sigmund Freud (cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi), triết học hiện sinh và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người như một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa tự nhiên và xã hội, trong đó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai qua 4 phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Xác định vị trí tiểu thuyết Chu Lai trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam sau 1975; thiết lập mối quan hệ biện chứng giữa các bình diện nội dung và phương thức biểu hiện nghệ thuật.
  • Phương pháp loại hình: Phân loại cụ thể các dạng thức tồn tại của con người cá nhân (bi kịch, tính dục, tâm linh, lưỡng diện) và các dạng thức thi pháp biểu hiện (không gian, thời gian, giọng điệu, điểm nhìn).
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu hình tượng con người trong tiểu thuyết Chu Lai với hình tượng con người sử thi trong văn học kháng chiến (1945 - 1975) và con người cá nhân giai đoạn đầu thế kỷ XX (Tự Lực văn đoàn, trào lưu hiện thực phê phán).
  • Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Khai thác tác phẩm bám sát thi pháp thể loại tự sự và đặc thù phản ánh hiện thực của tiểu thuyết.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung

Chương này xây dựng khung lý thuyết và tổng quan tư liệu nền tảng cho toàn bộ đề tài:

  • Khái quát tiểu thuyết Việt Nam sau 1975: Trình bày tiến trình vận động từ văn học cách mạng sang văn học thời kỳ đổi mới. Tác giả chỉ ra rằng trong 10 năm đầu sau 1975 (1975 - 1985), văn học vẫn chuyển động theo quán tính sử thi; từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), ý thức cá nhân mới thực sự bùng nổ, đưa con người trở về vị trí nhân vị độc lập. Khóa luận cũng điểm lại tiến trình ý thức cá nhân trong văn học dân tộc qua các mốc: đầu thế kỷ XX (Cành hoa tuyết điểm của Đặng Trần Phất, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách), phong trào Tự Lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng), văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 (Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan), và văn học sử thi 1945 - 1975 (Nguyễn Đình Thi, Anh Đức).
  • Tác giả Chu Lai và hành trình sáng tác: Trình bày tiểu sử Chu Lai (sinh năm 1946 tại Hà Nội, con trai nhà viết kịch Học Phi, từng là chiến sĩ đặc công hoạt động tại vùng ven Sài Gòn, tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du, công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội). Hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai được chia thành 2 chặng:
    • Chặng thứ nhất (1978 - 1985/1986): Mô hình tiểu thuyết sử thi, nhân vật phân tuyến rõ rệt, giọng điệu hào hùng ngợi ca.
    • Chặng thứ hai (1986 - 2005/2016): Mô hình tiểu thuyết phi sử thi, khám phá chiều sâu số phận người lính thời hậu chiến với tính cách phức tạp, đa chiều, giọng điệu đa thanh. Tác phẩm đạt nhiều giải thưởng lớn như Ăn mày dĩ vãng (1993), Mưa đỏ (2016) và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2007).
  • Quan niệm về con người và con người cá nhân: Phân tích khái niệm dưới góc độ triết học và văn học, khẳng định con người cá nhân là thước đo giá trị nhân văn và là đối tượng trung tâm của văn xuôi hiện đại.

Chương 2: Con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai sau 1975 nhìn từ phương diện nội dung

Chương 2 đi sâu giải mã 4 bình diện nội dung phản ánh con người cá nhân trong 12 tác phẩm khảo sát:

  • Con người bi kịch:
    • Bi kịch lạc loài: Người lính bước ra khỏi chiến hào bị bỡ ngỡ, mất phương hướng trước guồng quay kinh tế thị trường. Nhân vật Sáu Nguyện (Ba lần và một lần) cô độc đấu tranh chống lại Năm Thành rồi rơi vào vòng lao lý; nhân vật Linh (Vòng tròn bội bạc) trở thành người thừa ngay trong chính gia đình mình; người tướng già (Phố) bị coi là lạc hậu trong quán cà phê thời bình. Chi tiết Sáu Nguyện đào hài cốt lính Mỹ lấy 500 triệu đồng mua đất cho đồng đội nhấn mạnh sự đảo lộn giá trị cay đắng.
    • Bi kịch tha hóa: Con người đánh mất bản tính trước sức mạnh đồng tiền và cám dỗ nhục dục. Nhân vật Thảo (Phố) sau khi đi xuất khẩu lao động về đã thay đổi tâm tính, chê bai tiền Việt, biến đổi ham muốn sinh lý và ngoại tình; mối quan hệ ngoài luồng giữa Linh và Thủy (Vòng tròn bội bạc) xuất phát từ sự trống trải, bế tắc tinh thần.
    • Bi kịch chấn thương: Những sang chấn thể xác và tinh thần dai dẳng từ quá khứ. Cái chết kinh hoàng của Tùng (Nắng đồng bằng), vụ sập hầm nát năm sinh mạng (Ba lần và một lần), nhân vật Sen (Mưa đỏ) nửa điên nửa tỉnh khi nhìn xác đồng đội bị pháo xới, sự đau đớn của má Út Teng (Út Teng), cuộc hội ngộ giữa hai người mẹ ở hai chiến tuyến (Mưa đỏ), Bình (Phố) ám ảnh làm phim chiến tranh, hay Quang (Bãi bờ hoang lạnh) mang bệnh tâm thần xả nỗi sợ qua tiếng hú dài trên đồi cát.
  • Con người khao khát tính dục:
    • Tính dục - phương tiện giải thoát: Tính dục giải tỏa ẩn ức, đem lại cảm giác sống mãnh liệt. Cuộc ân ái giữa Hùng Karo và nữ trạm xá trưởng (Hùng Karo); sự buông thả bản năng giữa chị hàng nước và Lãm (Phố); khoảnh khắc giao hòa giữa Hai Hùng và Ba Sương dưới căn hầm trú ẩn (Ăn mày dĩ vãng).
    • Tính dục - phương tiện truy tìm bản ngã: Khát vọng tính dục đồng giới thầm kín của Thứ dành cho Hùng Karo (Hùng Karo); sự thức tỉnh tình yêu đích thực thay cho dục vọng chiếm đoạt đơn thuần của Bình đối với Dung (Bãi bờ hoang lạnh).
  • Con người tâm linh:
    • Khám phá tiềm thức qua giấc mơ và ảo giác: Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng) liên tục nằm mơ gặp lại linh hồn các liệt sĩ (Viên và đồng đội) tại nghĩa trang, bị chất vấn về sự sống sót của người ở lại.
    • Tâm linh đóng vai trò là điểm tựa cứu rỗi tinh thần, khơi gợi lương tri và lòng trắc ẩn của con người giữa đời sống xô bồ.
  • Con người lưỡng diện: Con người không thuần nhất mà tồn tại song song hai mặt đối lập: phần bản năng - phần xã hội, phần bóng tối - phần ánh sáng, có những toan tính tầm thường nhưng vẫn tiềm ẩn khát vọng hướng thiện.

Chương 3: Con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai sau 1975 nhìn từ phương diện nghệ thuật

Chương 3 phân tích 4 phương thức nghệ thuật kiến tạo hình tượng con người cá nhân:

  • Không gian nghệ thuật:
    • Không gian sử thi: Chiến trường khốc liệt, vùng căn cứ rừng núi - nơi thử thách bản lĩnh người lính.
    • Không gian sinh hoạt, đời thường: Phố xá xô bồ, khu chợ chen lấn chân tường quân đội, căn phòng chật hẹp, trại giam - không gian phơi bày bi kịch thế sự.
    • Không gian ảo giác - tâm linh: Bãi biển hoang vu, nghĩa trang đêm vắng, cõi mơ huyền ảo - nơi nhân vật đối diện với chiều sâu vô thức.
  • Thời gian nghệ thuật:
    • Thời gian hiện tại đời thường: Trôi chảy tuyến tính, gấp gáp theo quy luật thị trường.
    • Thời gian quá khứ/hồi tưởng: Thời gian tâm lý phi tuyến tính, gián cách, liên tục kéo nhân vật trở về với ký ức chiến tranh để tự vấn lương tâm.
  • Giọng điệu nghệ thuật:
    • Giọng điệu hào hùng, ngợi ca: Âm hưởng sử thi tái hiện khí phách chiến đấu.
    • Giọng điệu triết lý, trần tình, chiêm nghiệm: Suy ngẫm về sự hữu hạn của đời người, giá trị cuộc sống và nhân cách.
    • Giọng điệu giễu nhại, xót xa: Phê phán những thói hư tật xấu, sự tráo trở của đồng tiền và hoàn cảnh trớ trêu thời hậu chiến.
  • Điểm nhìn nghệ thuật:
    • Chuyển đổi linh hoạt giữa điểm nhìn cộng đồng (người kể chuyện toàn tri mang ý thức thời đại) và điểm nhìn cá thể/nội tâm (điểm nhìn bên trong của từng nhân vật), tạo nên cấu trúc đa thanh cho tiểu thuyết.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã khái quát và hệ thống hóa toàn diện các phương diện thể hiện hình tượng con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai sau 1975. Các kết quả nghiên cứu cụ thể được tổng hợp trong bảng sau:

Phương diện khảo sát Dạng thức / Yếu tố biểu hiện Dẫn chứng tác phẩm tiêu biểu Ý nghĩa nghệ thuật
Bản thể số phận Bi kịch lạc loài, tha hóa, chấn thương Ba lần và một lần, Vòng tròn bội bạc, Phố, Mưa đỏ, Bãi bờ hoang lạnh Phản ánh chân thực nỗi đau thời hậu chiến; giải thiêng hình mẫu sử thi lý tưởng hóa.
Bản năng & Bản ngã Tính dục giải thoát, tính dục truy tìm bản ngã Hùng Karo, Phố, Ăn mày dĩ vãng, Bãi bờ hoang lạnh Khẳng định quyền sống tự nhiên, khát vọng hạnh phúc và nhận thức bản thể cá nhân.
Đời sống vô thức Giấc mơ, ám ảnh tâm linh, hướng thiện Ăn mày dĩ vãng, Mưa đỏ, Bãi bờ hoang lạnh Khám phá cõi tiềm thức, tạo điểm tựa cứu rỗi tinh thần và thanh lọc lương tâm.
Thi pháp không - thời gian Không gian đời thường/tâm linh; thời gian tâm lý đảo lộn Toàn bộ 12 tiểu thuyết khảo sát Tạo bối cảnh đa tầng cho nhân vật tự bộc lộ chiều sâu nội tâm phức tạp.
Thi pháp tự sự Giọng điệu đa thanh, điểm nhìn nội tâm hóa Toàn bộ 12 tiểu thuyết khảo sát Tăng cường tính đối thoại, dân chủ hóa phương thức trần thuật hiện đại.

Đóng góp khoa học của khóa luận:

  • Phân tích có hệ thống hình tượng con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai từ cả hai bình diện nội dung tư tưởng và thi pháp nghệ thuật, khắc phục sự rời rạc của các bài báo nghiên cứu trước đó.
  • Làm sáng tỏ quy luật vận động của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới qua trường hợp điển hình của một cây bút quân đội: từ mô hình tiểu thuyết sử thi sang mô hình tiểu thuyết phi sử thi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tài liệu văn bản xuất bản trên thị trường tại thời điểm nghiên cứu, khóa luận mới chỉ khảo sát trực tiếp 12 trên tổng số hơn 20 tiểu thuyết của Chu Lai; chưa bao quát trọn vẹn toàn bộ các sáng tác truyện ngắn, kịch bản điện ảnh và sân khấu của tác giả.
  • Hướng mở nghiên cứu: Đề tài có thể tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát toàn bộ các thể loại khác của Chu Lai, hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu sâu hơn giữa hình tượng con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai với các tác giả cùng thế hệ như Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên, học viên cao học, sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam khi nghiên cứu về văn xuôi thời kỳ Đổi mới và đề tài chiến tranh hậu chiến.
  • Những người thực hiện đề tài nghiên cứu thi pháp tác giả Chu Lai, đặc biệt ở phần phân loại các dạng thức bi kịch và thi pháp không gian - thời gian nghệ thuật (Chương 2 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân chia hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai thành mấy chặng?
Khóa luận kế thừa nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạnh và phân chia hành trình sáng tác của Chu Lai thành 2 chặng: Chặng thứ nhất (1978 - 1985/1986) theo mô hình tiểu thuyết sử thi với nhân vật lý tưởng và giọng điệu hào hùng; Chặng thứ hai (1986 - 2005/2016) theo mô hình tiểu thuyết phi sử thi, tập trung vào người lính thời hậu chiến với tính cách đa chiều và giọng điệu đa thanh.

2. Khóa luận nhận diện những dạng thức bi kịch nào của con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai?
Khóa luận chỉ ra 3 dạng thức bi kịch chính: Bi kịch lạc loài (không thích ứng được với cơ chế thị trường thời bình), Bi kịch tha hóa (sa ngã trước tiền bạc, nhục cảm), và Bi kịch chấn thương (vết thương thể xác và sang chấn tâm lý do chiến tranh kéo dài sang thời bình).

3. Yếu tố tính dục được phân tích dưới những góc độ nào trong nghiên cứu này?
Tính dục trong tiểu thuyết Chu Lai được khóa luận phân tích ở 2 góc độ chính: Tính dục như một phương tiện giải thoát con người khỏi sự tù túng, bế tắc tinh thần để khẳng định sự sống; và Tính dục như một phương tiện truy tìm, đánh thức bản ngã và tình yêu chân chính.

4. Vì sao tác giả khóa luận chỉ khảo sát 12 tác phẩm tiểu thuyết của Chu Lai?
Mặc dù Chu Lai sáng tác hơn 20 tiểu thuyết trong 38 năm, nhưng do một số tác phẩm cũ không còn được tái bản hoặc khó tiếp cận tư liệu văn bản đầy đủ, tác giả đã chọn lọc 12 tiểu thuyết tiêu biểu nhất để phục vụ cho việc khảo sát khoa học.

5. Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Chu Lai có sự chuyển biến ra sao?
Khóa luận chỉ ra sự dịch chuyển từ điểm nhìn cộng đồng toàn tri (mang tính sử thi khách quan) sang điểm nhìn cá thể nội tâm (điểm nhìn bên trong nhân vật), cho phép đi sâu vào dòng ý thức, tiềm thức và đối thoại đa chiều.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thanh Tâm đã giải quyết trọn vẹn và nhất quán mục tiêu nghiên cứu về hình tượng con người cá nhân trong tiểu thuyết Chu Lai sau năm 1975. Thông qua việc phân tích 12 tác phẩm tiêu biểu trên cả hai bình diện nội dung tư tưởng và thi pháp nghệ thuật, công trình khẳng định sự đóng góp của Chu Lai trong tiến trình chuyển đổi từ mô hình sử thi sang mô hình phi sử thi của văn học thời kỳ đổi mới. Đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có cấu trúc chặt chẽ và nguồn dẫn chứng xác thực, mang giá trị tham khảo học thuật rõ ràng cho chuyên ngành Văn học hiện đại Việt Nam.