CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE CHUNG 1.1 Khái quát đặc điểm của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Trong tat cả các thé loại của văn học, tiểu thuyết được xem là một khu vực thể loại độc đáo bởi sức chứa lớn rộng của nó, bởi sự vận động không ngừng khi cọ xát với đời sống văn minh nhân loại. Muốn phiêu lưu vào thé giới mênh mông đó, chúng ta cần phải tìm hiểu bối cảnh thời đại cụ thé dé từ đó ta mới có thé mô xẻ. phân tích hay nhận định được các phương diện đặc điểm mà tiêu thuyết trong thời đại đó đang vận hành. Tại Việt Nam, giai đoạn thời hậu chiến sau 1975 là cột mốc giai đoạn mà tiêu thuyết phát triển huy hoàng với những bước chuyên mình lớn.
Mikhail Mikhailovits Bakhtin (M. Bakhtin) được biết đến là một nha khoa học lỗi lạc của mọi thời đại trong lịch sử nghiên cứu văn học thé giới, là người góp công xây dựng lí thuyết thé loại và khang định vị trí cốt lõi của hệ thống lí luận về lí thuyết thê loại trong khoa nghiên cứu văn học. trong công trình ¿ý luận và thi pháp tiểu thuyết nội tiếng, tác giả đã nhân mạnh sự khu biệt giữa tiêu thuyết với các miền thê loại khác như sau: Tiểu thuyết không đơn thuần là một thé loại trong nhiều thé loại. Dé là thẻ loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thé giới vả vì the ma thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thé loại lớn khác chi được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tat và chúng chỉ thích nghi khá hơn - hoặc kém hon với những điều kiện sinh tồn của nó.
Bakhin nhận định tiểu thuyết là một thé loại đặc biệt vì nó được hình thành trong chính thời đại nơi nó tôn tại: *Nó là thé loại duy nhất do thé giới mới ấy sản sinh ra và đồng chất với thé giới ấy về mọi mặt. Tiểu thuyết ra đời 15 ngay trong lòng xã hội, do đó tính chất “dang dé” là một tinh chất đặc thù khi bản luận về tiêu thuyết. Bakhtin cho rằng chính tính chất này đã định hình nên sự nhận biết tất yêu về tư duy tiêu thuyết: “Tiéu thuyết tiếp xúc với môi trường của cai hiện tại chưa hoàn thành, chính đặc điểm ay không cho phép thé loại ấy bị đông cứng lại. Người viết tiêu thuyết thiên vẻ tat cả những gì còn chưa xong xuôi” (Bùi Việt Thắng, 2019, 18).
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, van học bước vào hành trình đôi mới. Trở về với cuộc sống bình thường, con người bắt đầu có thời gian nhìn nhận, ngẫm nghiệm vẻ những gì đang diễn ra xung quanh. Trên tinh thần “viết về sự thật, nhìn thăng vào sự thật”, các cây bút tiêu thuyết không còn ngắn ngại phải che đậy hiện thực dé phục vụ nhu cầu văn học kháng chiến mà sẵn sảng vén màn hiện thực, phản ánh sâu sát điện mạo đời sống hiện thời. Đó là một thái độ can dam dé giải phóng những xung năng, ân ức sáng tạo bị ràng buộc bởi các điều kiện sục sôi của Cách mạng.
Nói về thời đại sau 1975, nhà văn Nguyễn Khai đã hao hứng nhận xét về “cai hôm nay” là một “cai hôm nay ngôn ngang bề bộn. bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, day ray những bat ngờ" (Bùi Việt Thing, 2019, 23). Trong khi đó bình luận của Bui Binh Thi lại tran trở về sự vô định của ngảy hôm nay vì “khi ta vừa giải thích xong và ta thỏa mãn rằng đã giải thích một cách thấu đáo thì sau đây nó lại diễn biến một cách khác đi, và làm cho chính người giải thích chăng thé nào mà hiểu được biết duoc” (Bùi Việt Thang, 2019, 23). Tuy nhiên, du ở trong một tam thể nào đi chăng nữa thì cái ngày hôm nay trong tư tưởng Nguyễn Khai hay Bùi Bình Thi vẫn là ngày hôm nay của thời hiện tại chưa hoàn thành, cái ngày hôm nay mà tiểu thuyết hiện đại luôn hướng tới.
Không chi là các đề tài khai thác nhịp sông sinh hoạt đời thường của con người thời ` bình, sự trỗi dậy của dé tài chiến tranh là một điểm nhắn đáng chú ý khi bàn luận đến sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975. Một câu hỏi được đặt ra ở đây, tiêu thuyết vẫn được nhận định như một thé loại tương tác trực diện với khu vực hiện tại chưa hoàn tat, vậy tiêu thuyết sẽ như thé nào nếu nhìn nhận lại quá khứ ? Đối điện với van dé đó, M. Bakhtin đã phản hồi một cách đầy thuyết phục về tầm quan trọng của tiêu thuyết 16 trong việc tái hiện lại quá khử khi ông nhan mạnh: “Sy miêu tả quá khứ trong tiêu thuyết tuyệt nhiên không đòi hỏi phải hiện đại hóa cái quá khứ ấy. Ngược lại chỉ trong tiểu thuyết mới có thê miêu tá thực sự khách quan quá khứ như là quá khứ” (Bùi Việt Thắng, 2019, 18).
Phản ánh quá khứ như chính bản thân quá khứ - đó chính là kim chỉ nam tư tưởng của tiêu thuyết chiến tranh thời kì đối mới. Nếu như trong giai đoạn cách mạng, chiến tranh được khai thác qua những góc nhìn được thi vị hóa, lí tưởng hóa nhằm khích lệ ý chí chiến dau chong giặc ngoại xâm của nhân dân, thì sau hòa bình các van dé chiến tranh được nhận thức lại hoàn toàn. Chiến tranh trở vẻ với bản chất cốt lõi thật sự của nó. Hình tượng người anh hing không còn thơ mộng trong văn chương như trước nữa mà xuất hiện trong một sự giản dj như bat cứ con người bình thường nao trong cuộc đời.
Những máng tối day ám ảnh, những cái chết đau thương, những tâm trạng hoài nghỉ tuyệt vọng đến nỗi văn học giai đoạn kháng chiến cho là nhạy cảm nay đã được các nhà văn phơi bày trần trụi trên trang tiểu thuyết mà không cần phái che đậy. Có thê nói, chiến tranh luôn đóng vai trò như một siêu đề tài, vượt qua lăn ranh không gian - thời gian để mãi mãi là một nguồn cảm hứng lớn cho các nhà tiêu thuyết hiện đại tìm về giữa dong chảy đương thời sôi nôi. Bởi lẽ trong tâm cảm mỗi con người, quá khứ dan tộc là kí ức không thé nào được phép lãng quên. Hình tượng con người cá nhân bắt đầu được chú trọng, quan tâm nhiều hơn từ những năm dau thé ky 20 của nền van học Việt Nam.
Có thé nói, con người cá nhân đã trải qua các chặng đường rat dai với những thăng tram để hình thành và phát triển. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã hệ thống các chặng đường đó thành một tiến trình phát triển quan niệm con người cá nhân cụ thé, qua nhiều giai đoạn trong hai trục thời gian chính: trước 1975 và sau 1975. Đầu thé ki XX ở Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ được nhìn nhận là một nghề nghiệp của xã hội. Trong bầu khí quyền nền văn học mới - văn học đi theo hướng hiện đại cùng sự kế thừa tinh hoa văn học dân tộc ở thời kì trước, tiểu thuyết trở thành một thẻ loại trung tâm, một phương tiện đắc lực để khăng định quan niệm về con người cá nhân.
Ở những năm dau thé kỷ 20, cái tôi cá nhân chủ nghĩa da bat đầu manh nha những biéu 17 hiện. Bằng bút pháp tả thực, các nha tiêu thuyết đã tái hiện lại một xã hội thượng lưu nhiễu nhương, hỗn loạn khi bên ngoài thì hào nhoáng còn bên trong thì đầy rẫy sự trụy lạc, suy đôi. Giữa rất nhiều các tác phâm văn xuôi nỗi bật ra mắt bạn đọc lúc bay giờ, Cành hoa tuyết điểm (1921- Đặng Trần Phất) là một áng tiêu thuyết dé lại nhiều ấn tượng. Cuộc đời lênh dénh chìm nôi của nhân vật Bạch Thủy gợi nhắc cho người ta nhớ về số phận “hông nhan đa truân” của nang Kiều cách đây hang may thé ki.
Sau khi cha chết vì mang án oan, Thuy rời xa tô ấm gia đình và bước vào những ngày tháng lang bat không biết đi vẻ dau, dé rồi không may rơi vào x6m “bình khang”. Bị day doa trong một xã hội xuống cap như vậy, Bạch Thủy sông mòn cạn về thân xác còn tâm hon thì như chết rồi, chi thấy tương lai trước mắt tăm tôi trong “cái buôn, cái thảm, cái khô” tận cùng mà không nhìn thấy lôi thoát cho số phận bé tắc của chính mình. Ý thức cá nhân về thân phận bạc bẽo, tui nhục của người con gái phải nương mình trong chốn lầu xanh đã ám ảnh độc giả, tuy vậy cái tôi vẫn chưa đủ can đảm dé bit pha. Phải đến khi 7é Tâm của Hoang Ngọc Phách ra đời vào năm 1925, dau ấn con người cá nhân mới được thé hiện mạnh mẽ.
Là một tác phẩm thuần túy vẻ tình yêu nam nữ, Hoàng Ngọc Phách đã xây dựng những xung đột giữa lí trí và tình cảm của các nhân vật nhằm khai thác chiều sâu tâm lí. Chuyện tình yêu mãnh liệt, tha thiết của Đạm Thủy và Tổ Tâm gặp nhiều gian truân khi bị ngăn trở bởi vòng kìm kẹp của chữ “tín”, chữ “hiểu”. Cả hai nhân vật này đều ý thức được hạnh phúc cá nhân, đều cảm thấy bat đồng trước những quan niệm đạo đức lỗi thời và đều mong mỏi, khát mong được tự do trong tình yêu đôi lứa riêng tư song sức mạnh lễ giáo phong kiến con quá lớn. Con người cá nhân van chịu ràng buộc bởi trách nhiệm gia đình, xã hội nên bản lĩnh dau tranh cũng chỉ dừng lại ở tính chat nước đôi, nửa vời.
Đây cũng là giới hạn mà 76 Tâm chưa vượt qua được nhưng không thê phủ nhận chính tác pham này đã đánh dau một cột moc quan trọng cho sự trưởng thành của con người cá nhân qua các giai đoạn về sau. Thời kì 1930 - 1945 là một thời kì có nhiều biến động lich sử. Đó là thời kì ma chủ nghĩa thực dan kiểu cũ đang trên đà sụp đồ và dé quốc xâm lược Pháp ngày một tàn ác. Các cuộc dau tranh dân tộc diễn tiền liên tục, tạo tiền dé cho sự ra đời của nhiêu khuynh hướng 18 và phương pháp sang tác trong văn hoc.
Có thé nói nên văn học Việt Nam trong giai đoạn này phát triển rất phong phú với nhiều trào lưu nghệ thuật nồi bật, tạo ra nhiều hệ giá trị mớ.