Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2: Đề cập đến tổng quan lý thuyết, những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm trước đây về cổ tức, chất lượng thu nhập, mối quan hệ giữa cổ tức và chất lượng thu nhập. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, mô tả dữ liệu và thống kê mô tả. Chương 4: Trình bày nội dung và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Trình bày những kết luận và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: 2. Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức: 2.
Khái niệm cổ tức: Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của một công ty cổ phần. Hay theo một cách hiểu khác, cổ tức là một phần thành quả hoạt động của công ty được chia cho cổ đông sau khi giữ lại một phần lợi nhuận để tái đầu tư và trích lập các khoản dự phòng (còn gọi là lợi nhuận giữ lại). Cổ tức có thể được trả bằng tiền hoặc bằng cổ phiếu. Chính sách cổ tức là chính sách sẽ ấn định phân phối của lợi nhuận sau thuế được sử dụng để tái đầu tư vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo, và chi trả lợi tức cho cổ đông.
Chính sách cổ tức không chỉ tác động trực tiếp đến thu nhập của cổ đông bằng thu nhập hữu hình là cổ tức mỗi kỳ mà còn tác động đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ thông qua nguồn lợi nhuận giữ lại và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp trong các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Do đó, việc hội đồng quản trị xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra một chính sách chi trả cổ tức phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Chính sách cổ tức: Chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp: Miller và Modigliani (1961) cho rằng, trong một thị trường hoàn hảo (không có thuế, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phát hành chứng khoán mới, thông tin cân xứng, không có mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, các giao dịch không làm ảnh hưởng đến giá thị trường), giá trị của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào các quyết định đầu tư, chứ không phụ thuộc vào chính sách chi trả cổ tức của công ty. Các tác động của chính sách cổ tức sẽ được bù trừ bằng các hình thức tài trợ khác, ví dụ như bán cổ phần thường.
Chính sách cổ tức tác động đến giá trị doanh nghiệp: Theo Gordon (1961), trong một thị trường không hoàn hảo (các giả định không có thuế, không có chi phí TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 giao dịch, không có chi phí phát hành chứng khoán mới bị vi phạm và tồn tại chi phí đại diện), chính sách cổ tức cao sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp. Cụ thể, Gordon cho rằng đối với các nhà đầu tư không thích rủi ro, cổ tức chi trả trong hiện tại hấp dẫn hơn lãi vốn trong tương lai. Do vậy, khi chiết khấu lợi nhuận tương lai để tính giá trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư có xu hướng giảm lãi xuất chiết khấu cho các công ty chi trả cổ tức cao và thường xuyên so với các công ty không chi trả cổ tức. Lý thuyết đại diện: Vấn đề chi phí đại diện xuất hiện khi những nhà quản lý có hành vi tư lợi thay vì hành động cho lợi ích của cổ đông, theo tranh luận của Jensen và Meckling (1976)).
Easterbrook (1984), tranh luận rằng, chi trả cổ tức làm giảm dòng tiền tự do quá dư thừa trong công ty, như vậy, ngoài việc buộc các nhà quản lý phải chủ động hơn trong vấn đề tìm kiếm các nguồn tài trợ bên ngoài của thị trường vốn, nhà quản lý sẽ chịu thêm áp lực giám sát từ các định chế tài chính, làm giảm chi phí đại diện và ngăn cản nhà quản lý có hành vi ngụy tạo báo cáo thu nhập. Vai trò phát tín hiệu của chính sách cổ tức: Các nhà quản lý, chứ không phải các nhà đầu tư, có đầy đủ thông tin về tình hình hoạt động cũng như triển vọng phát triển trong tương lai của công ty. Như vậy, cổ tức được xem như một công cụ truyền tải tín hiệu và củng cố thêm tính chính xác của thu nhập trên báo cáo tài chính. Theo Jaganathan và cộng sự (2000); DeAngelo và Skinner (2000), khi công ty tăng cổ tức đều đặn, họ đang thực hiện một cam kết sẽ tiếp tục duy trì dòng tiền này trong tương lai.
Lý thuyết về hiệu ứng khách hàng: Miller và Modigliani (1961); Elton và Gruber (1970); Black và Scholes (1974) tranh luận rằng, những nhà đầu tư khác nhau sẽ lựa chọn những công ty có chính sách cổ tức phù hợp với khẩu vị của mình, như vậy, các công ty không cần theo đuổi một chính sách cổ tức chỉ vì nhà đầu tư ưa thích cổ tức thay vì lãi vốn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan về chất lượng thu nhập: 2. Khái niệm chất lượng thu nhập: Thông thường, các nhà đầu tư dựa vào thu nhập được trình bày trên báo cáo tài chính, từ đó, chất lượng thu nhập trở thành một yếu tố để đánh giá chính xác hơn giá trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để họ có thể đưa ra các quyết định kinh tế chính xác (Bushman và Smith (2001); Gaio và Raposo (2011)).
Thu nhập được trình bày trên báo cáo tài chính cũng hữu ích cho các nhà phân tích tài chính, những người đưa ra dự báo giá cổ phiếu (Siegel (1982)). Do đó, thông tin thu nhập là đầu vào của các mô hình phân tích tài chính, việc xác định chất lượng thu nhập không phải là đều đơn giản, đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn về tài chính, kế toán và chiến lược doanh nghiệp, hiểu biết sâu sắc về ngành mà công ty hoạt động. Năm 1934, Graham và Dodd lần đầu tiên sử dụng khái niệm “hệ số chất lượng” để phản ánh chính sách cổ tức, cũng như các đặc thù của doanh nghiệp bao gồm “quy mô, danh tiếng, vị thế tài chính và triển vọng”, và bản chất hoạt động của doanh nghiệp cũng như các yếu tố kinh tế vĩ mô. Theo thời gian, thuật ngữ “Chất lượng thu nhập” ngày càng được sử rộng rãi trong các công trình nghiên cứu về kế toán và tài chính trên thế giới.
Tuy nhiên, vẫn chưa có sự đồng thuận trong khái niệm và cách đo lường chất lượng thu nhập. Lev (1989) đã trình bày “chất lượng” như một đặc tính mô tả thu nhập. Schipper và Vincent (2003); Jonas và Blanchet (2000) quan tâm về tính hữu ích của thu nhập, qua đó, chất lượng thu nhập cao thể hiện một thu nhập bền vững và thường xuyên. Theo quan điểm quản lý của Rezaee (2002) và Ball (2000; 2003), thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ, công khai và không được gây hiểu nhầm hoặc gây nhầm lẫn cho người sử dụng báo cáo tài chính.
Francis (2004), cho rằng có bảy yếu tố cấu thành nên thu nhập, bao gồm: Chất lượng tích lũy, tính bền vững, tính dự đoán TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 được, làm đẹp thu nhập, giá trị phù hợp, kịp thời, bảo thủ và mối liên hệ giữa chất lượng thu nhập với chi phí vốn. Trong khi Schipper và Vincent (2003), trình bày theo quan điểm giá trị phù hợp và dựa trên đặc điểm kinh tế để kiểm tra chất lượng thu nhập, thì chất lượng thu nhập bao gồm: Tính vững, khả năng phán đoán, đặc điểm chất lượng của khung khái niệm, mối quan hệ giữa thu nhập, tiền mặt và các khoản dồn tích, và việc thực hiện các quyết định. Penman và Zhang (2002); Richardson (2003) lại cho rằng chất lượng thu nhập cao gắng liền với thu nhập bền vững. Bricker (1995), và Mikhail (2003) nhận xét chất lượng thu nhập cao hơn khi thu nhập trước đây của công ty được liên kết chặt chẽ với dòng tiền trong tương lai.
Dechow và Dichev (2002) cho rằng thu nhập là một trong những biện pháp quan trọng nhất để đánh giá dòng tiền trong tương lai của công ty. Dechow và Schrand (2004) lại cho rằng từ góc nhìn của nhà phân tích, chất lượng thu nhập cao thể hiện qua: i) Phản ánh hiệu quả hoạt động hiện tại, ii) Chỉ báo cho hoạt động trong tương lai, iii) Thể hiện chính xác giá trị nội tại của công ty. Dechow và cộng sự (2010) sau khi tổng hợp hơn 300 bài nghiên cứu về “chất lượng thu nhập” đã đưa ra định nghĩa về chất lượng thu nhập dựa vào định nghĩa của SFAC (Statement of Financial Accounting Concepts) về chất lượng báo cáo tài chính như sau: “Chất lượng thu nhập càng cao, cung cấp càng nhiều thông tin về tình hình hoạt động tài chính của công ty cho một quyết định cụ thể của một người sử dụng cụ thể”. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu rằng báo cáo tài chính có thể được coi là có chất lượng cao khi thu nhập báo cáo phản ánh chính xác các sự kiện và điều kiện kinh tế cơ bản cũng như cho phép người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra quyết định tốt hơn.
Ngoài ra, chất lượng thu nhập cao có thể đạt được nếu thu nhập phản ánh tính minh bạch của công ty và cung cấp cho người dùng thông tin kế toán hữu ích để đánh giá hiệu suất của công ty, từ đó, nhà đầu tư có thể đánh giá tình hình sức khỏe tài chính của công ty một cách chính xác và hiệu quả trong từng quyết định cụ thể. Theo Dechow và cộng sự (2010) khái niệm chất lượng thu nhập chỉ có ý nghĩa nếu nó được xem xét trong bối cảnh của một mô hình quyết định cụ thể. Bởi vì các bên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 liên quan khác nhau có thể có quan điểm khác nhau về những thành phần tạo nên một chất lượng thu nhập cao. Trong bài nghiên cứu này, chất lượng thu nhập sẽ được tiếp cận ở ba khía cạnh: Thu nhập bền vững, chất lượng các khoản dồn tích và thông tin chứa đựng trong thu nhập.
Đo lường chất lượng thu nhập: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.