Cổ Tức và Sự Chiếm Đoạt Từ Các Cổ Đông Kiểm Soát Tại Các Công Ty Niêm Yết Ở Việt Nam

Nghiên cứu về cổ tức và sự chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và phân tích chi tiết.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2014

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

1.7. Điểm nổi bật của luận văn

1.8. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1. Cấu trúc sở hữu và cổ đông kiểm soát cuối cùng

2.2. Chi phí đại diện và chính sách cổ tức

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Dữ liệu nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ quyền sở hữu và kiểm soát

3.3. Các biến tài chính khác

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.5. Các biến nghiên cứu

3.5.1. Biến phụ thuộc

3.5.2. Biến độc lập

3.5.3. Các biến kiểm soát

3.6. Quy mô công ty (SIZE)

3.7. Cơ hội tăng trưởng (GSDECILE)

3.8. Hạn chế vốn (CRATION)

3.9. Mô hình nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả và phân tích tương quan

4.2. Sở hữu và kiểm soát ở các công ty niêm yết ở Việt Nam

4.3. Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và kiểm soát với chính sách cổ tức – Hồi quy dữ liệu chéo

4.3.1. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo

4.3.2. Kết quả hồi quy

4.3.3. Kiểm định một số giả định

4.3.4. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo cho các công ty có liên kết nhóm

4.3.5. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo có tác động của cổ đông lớn thứ hai

4.3.6. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo có tác động của sở hữu gia đình và sở hữu nhà nước

4.3.7. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo có tác động của sở hữu gia đình

4.3.8. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo cho các công ty sở hữu gia đình

4.3.9. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo có tác động của sở hữu nhà nước

4.3.10. Kết quả hồi quy dữ liệu chéo cho các công ty sở hữu nhà nước

4.4. Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và kiểm soát với chính sách cổ tức – Hồi quy dữ liệu bảng

4.4.1. Kết quả hồi quy Pooled OLS, Random Effect, Fixed Effect

4.4.2. Kết quả hồi quy Pooled OLS

4.4.3. Kết quả hồi quy Random Effect

4.4.4. Kết quả hồi quy Fixed Effect

4.5. Lựa chọn giữa Pooled OLS, Random Effect, Fixed Effect

4.5.1. Lựa chọn giữa Pooled OLS và Random Effect

4.5.2. Lựa chọn giữa Random Effect và Fixed Effect

4.6. Kết quả hồi quy với dữ liệu bảng

4.7. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.7.1. Thảo luận về cấu trúc sở hữu và kiểm soát

4.7.2. Thảo luận về kết quả hồi quy của các biến

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cổ Tức và Chiếm Đoạt Từ Cổ Đông Kiểm Soát

Cổ tức và sự chiếm đoạt từ các cổ đông kiểm soát là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Cấu trúc sở hữu tập trung tại Việt Nam đã tạo ra những thách thức lớn cho cổ đông thiểu số, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền lợi của họ trước các cổ đông kiểm soát. Bằng chứng từ các công ty niêm yết cho thấy sự khác biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát có thể dẫn đến khả năng chiếm đoạt lợi ích từ cổ đông kiểm soát.

1.1. Định Nghĩa Cổ Tức và Chiếm Đoạt

Cổ tức là phần lợi nhuận được chia cho cổ đông từ công ty. Chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát xảy ra khi các cổ đông này sử dụng quyền lực của mình để thu lợi ích cá nhân, gây thiệt hại cho cổ đông thiểu số. Nghiên cứu của La Porta và cộng sự (1999) đã chỉ ra rằng sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc sở hữu tại Việt Nam mà còn giúp các nhà đầu tư và nhà quản lý hiểu rõ hơn về các rủi ro liên quan đến chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát. Điều này có thể giúp cải thiện hệ thống pháp luật và quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.

II. Vấn Đề Chiếm Đoạt Từ Cổ Đông Kiểm Soát Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, vấn đề chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Các công ty niêm yết thường có cấu trúc sở hữu tập trung, dẫn đến việc cổ đông kiểm soát có thể dễ dàng thao túng lợi ích của công ty. Nghiên cứu cho thấy rằng các cổ đông kiểm soát có thể sử dụng quyền lực của mình để quyết định chính sách cổ tức, từ đó ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông thiểu số.

2.1. Cấu Trúc Sở Hữu Tại Các Công Ty Niêm Yết

Cấu trúc sở hữu tại các công ty niêm yết ở Việt Nam thường tập trung vào một số cổ đông lớn, dẫn đến sự chênh lệch giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Điều này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc chiếm đoạt lợi ích từ cổ đông kiểm soát.

2.2. Tác Động Đến Cổ Đông Thiểu Số

Cổ đông thiểu số thường gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình trước các quyết định của cổ đông kiểm soát. Chính sách cổ tức có thể trở thành công cụ để cổ đông kiểm soát chiếm đoạt lợi ích, gây thiệt hại cho cổ đông thiểu số.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Về Cổ Tức và Chiếm Đoạt

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đánh giá mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức. Dữ liệu được thu thập từ các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009-2013. Phân tích hồi quy OLS và hồi quy dữ liệu bảng được áp dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến.

3.1. Dữ Liệu Nghiên Cứu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm thông tin về tỷ lệ sở hữu, chính sách cổ tức và các biến tài chính khác. Việc thu thập dữ liệu được thực hiện từ các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.

3.2. Phân Tích Hồi Quy

Phân tích hồi quy OLS được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và sự khác biệt trong tỷ lệ sở hữu và kiểm soát. Hồi quy dữ liệu bảng cũng được áp dụng để củng cố kết quả nghiên cứu.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Cổ Tức và Chiếm Đoạt

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan dương giữa chính sách cổ tức và sự khác biệt trong tỷ lệ sở hữu và kiểm soát. Các công ty có cổ đông kiểm soát lớn thường có chính sách cổ tức không công bằng đối với cổ đông thiểu số. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các công ty thuộc sở hữu nhà nước có xu hướng chi trả cổ tức thấp hơn so với các công ty tư nhân.

4.1. Mối Quan Hệ Giữa Cổ Tức và Cấu Trúc Sở Hữu

Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có sự chênh lệch lớn giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát thường có chính sách cổ tức không công bằng. Điều này cho thấy khả năng chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát là rất cao.

4.2. Ảnh Hưởng Của Cổ Đông Lớn Thứ Hai

Sự hiện diện của cổ đông lớn thứ hai có thể giúp giảm bớt xung đột lợi ích giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, điều này không đủ để bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số.

V. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng vấn đề chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát là một thách thức lớn đối với các cổ đông thiểu số tại Việt Nam. Cần có các biện pháp pháp lý và quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn để bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số. Hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chính sách bảo vệ cổ đông thiểu số trong bối cảnh Việt Nam.

5.1. Đề Xuất Chính Sách

Cần có các chính sách pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, bao gồm việc cải thiện hệ thống quản trị doanh nghiệp và tăng cường minh bạch thông tin.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác như tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chính sách cổ tức và chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh cổ tức và sự chiếm đoạt từ các cổ đông kiểm soát bằng chứng từ các công ty niêm yết ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: giới thiệu khái quát về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn, điểm nổi bật trong nghiên cứu. Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết và tóm tắt các nghiên cứu trước đây liên quan đến cấu trúc sở hữu, chi phí đại diện, chính sách cổ tức ở các quốc gia, khu vực trên thế giới. Chương 3: trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý số liệu, đưa ra các biến sử dụng nghiên cứu và các mối quan hệ có thể có. Chương 4: trình bày các kết quả tìm được về cấu trúc sở hữu ở Việt Nam, mối quan hệ giữa cổ tức và sự khác biệt trong tỷ lệ quyền sở hữu và quyền kiểm soát, kết hợp thảo luận các kết quả tìm được.

Chương 5: rút ra kết luận và hạn chế của nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cấu trúc sở hữu và cổ đông kiểm soát cuối cùng: Nghiên cứu về cấu trúc sở hữu gần đây cho thấy mô hình sở hữu phân tán trong đó quyền kiểm soát nằm trong tay các nhà quản lý của Berle và Means (1932) là hình thức sở hữu không phổ biến, ngay cả ở những nước phát triển. Thay vào đó, phần lớn các nước trên thế giới có cấu trúc sở hữu tập trung (Shleifer và Vishny, 1997).

Khi quyền kiểm soát nằm trong tay các cổ đông có thể đem lại lợi ích cho công ty. Các cổ đông này sở hữu phần lớn công ty, do đó sẽ có cùng lợi ích với các cổ đông khác, đồng thời có quyền lực để giám sát tốt hơn đối với các nhà quản lý, từ đó đem lại lợi ích cho công ty và cho các cổ đông thiểu số (Shleifer và Vishny, 1986). Tuy nhiên, các cổ đông này cũng có thể kiểm soát hoàn toàn công ty chỉ với tỷ lệ sở hữu thấp, khi đó lợi ích của cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số sẽ không giống nhau và xảy ra khả năng chiếm đoạt. Sự chiếm đoạt (Expropriation) được định nghĩa là việc các cổ đông kiểm soát sử dụng quyền kiểm soát của mình để tạo ra lợi ích cho bản thân, gây thiệt hại cho các cổ đông khác, đặc biệt khi quyền kiểm soát của họ vượt quá quyền sở hữu (Shleifer và Vishny, 1997).

Bebchuk và cộng sự (2000) gọi cấu trúc sở hữu mà ở đó cổ đông có thể kiểm soát công ty chỉ với một tỷ lệ sở hữu tương đối thấp là cấu trúc kiểm soát-thiểu số (Controlling-minority structures – CMS). Họ giải thích rằng sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát có thể xảy ra theo ba cách chủ yếu sau : qua cấu trúc sở hữu kim tự tháp (stock pyramids), sở hữu chéo (cross-ownership) và phát hành các cổ phiếu có quyền biểu quyết khác nhau (dual-class equity). Như vậy, lợi ích hay thiệt hại trong cấu trúc sở hữu tập trung phụ thuộc vào sự khác biệt trong quyền sở hữu và quyền kiểm soát của cổ đông kiểm soát. Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu về sở hữu chỉ quan tâm đến người chủ sở hữu trực tiếp, không xem xét đến người chủ sở hữu cuối cùng kiểm soát công ty để xác định loại hình sở hữu, tỷ lệ sở hữu, tỷ lệ kiểm soát công ty.

Nghiên cứu của La Porta và cộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sự (1999) được xem là nghiên cứu đầu tiên đề cập đến sở hữu của cổ đông kiểm soát cuối cùng. Nghiên cứu đã tiến hành truy ngược theo chuỗi sở hữu của 30 công ty lớn nhất trong mỗi 27 nền kinh tế phát triển. Kết quả cho thấy, trừ những nền kinh tế có hệ thống pháp luật bảo vệ nhà đầu tư tốt, phần lớn các công ty đều có cổ đông kiểm soát (sở hữu tập trung), trong đó sở hữu gia đình và sở hữu nhà nước là hai hình thức chủ yếu. Các cổ đông kiểm soát gia tăng quyền lực của mình thông qua cấu trúc sở hữu kim tự tháp, sở hữu chéo và sử dụng cổ phiếu có các quyền biểu quyết khác nhau.

Sau nghiên cứu của La Porta và cộng sự (1999), Claessens và cộng sự (2000), Faccio và Lang (2002) cũng tiến hành truy ngược chuỗi sở hữu cho khu vực Đông Á và Tây Âu. Kết quả nghiên cứu ở Đông Á cho thấy hơn một nửa số công ty ở khu vực này do các gia đình nắm quyền kiểm soát. Ở Tây Âu, trừ Anh và Ireland, các công ty ở các quốc gia còn lại cũng chịu sự kiểm soát của công ty gia đình. Nghiên cứu cũng tìm thấy có sự khác biệt trong quyền sở hữu và kiểm soát chủ yếu qua cấu trúc sở hữu kim tự tháp, ngoài ra các công ty ở Tây Âu còn phát hành cổ phiếu có các quyền biểu quyết khác nhau, trong khi sở hữu chéo được sử dụng phổ biến ở Đông Á.

Claessens và cộng sự (2002) nghiên cứu hiệu ứng gia tăng và sụt giảm (incentive and entrenchment effects) của cổ đông kiểm soát đối với giá trị công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị công ty tăng cùng với tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn nhất (incentive effect) và giảm cùng với tỷ lệ kiểm soát (entrenchment effect), đặc biệt khi sự khác biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát càng lớn, giá trị công ty càng thấp. Kết quả này ủng hộ cho giả thuyết: Khi cổ đông kiểm soát có quyền kiểm soát vượt quá quyền sở hữu của mình sẽ tạo ra chi phí đại diện lớn hơn nhiều so với chi phí đại diện khi quyền kiểm soát và quyền sở hữu tương ứng nhau (Bebchuk và cộng sự, 2000). Điều này gợi ý rằng rủi ro các cổ đông thiểu số bị chiếm đoạt từ cổ đông kiểm soát là vấn đề cần quan tâm đối với các nước.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chi phí đại diện và chính sách cổ tức: Có ba lý thuyết được đưa ra trong việc giải thích cho chính sách cổ tức: lý thuyết chi phí đại diện và dòng tiền tự do, lý thuyết phát tín hiệu và lý thuyết hiệu ứng thuế. Phần này tóm tắt các nghiên cứu về chi phí đại diện và chính sách cổ tức. Chi phí đại diện (agency costs) gồm chi phí tổ chức, chi phí giám sát, chi phí thiết lập các hợp đồng ràng buộc giữa các bên có lợi ích khác nhau.

Chi phí đại diện cũng bao gồm giá trị tài sản mất đi do chi phí từ việc thực thi các hợp đồng ràng buộc vượt quá lợi ích mà nó đem lại (Jensen và Meckling, 1976). Chi phí đại diện phát sinh khi có sự xung đột lợi ích giữa những người bên trong và những người bên ngoài công ty. Những người bên trong nắm quyền điều hành và kiểm soát công ty, có thể sử dụng tài sản công ty cho các mục đích cá nhân gây thiệt hại cho lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Trong các công ty lớn ở Mỹ và Anh, sở hữu là phân tán, người bên trong chính là các nhà quản lý cấp cao điều hành công ty, người bên ngoài chính là các cổ đông.

Do đó, vấn đề đại diện là vấn đề giữa người chủ (cổ đông) và người đại diện (nhà quản lý). Trong hầu hết các nước còn lại, sở hữu là tập trung (La Porta và cộng sự, 1999, Claessens và cộng sự, 2000; Faccio và Lang, 2002), người bên trong chính là các cổ đông kiểm soát, người bên ngoài chính là các cổ đông thiểu số. Do đó, vấn đề đại diện (agency problem) là vấn đề giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số. Để giảm chi phí đại diện, Easterbrook (1984) và Jensen (1986) cho rằng các công ty nên chi trả cổ tức để giảm bớt dòng tiền tự do.

Easterbrook (1984) lập luận rằng cổ tức phải được trả cho cổ đông để giảm dòng tiền tự do trong tay nhà quản lý. Điều này buộc các nhà quản lý phải tìm đến nguồn tài trợ từ thị trường vốn bên ngoài khi có nhu cầu đầu tư mới. Các chủ nợ sẽ đưa ra các ràng buộc trước khi cung cấp vốn và cùng với cổ đông trong công ty giám sát hoạt động của các nhà quản lý. Jensen (1986) thì cho rằng những công ty có dòng tiền tự do dư thừa sẽ có khuynh hướng đầu tư vào những dự án không hiệu quả.

Tăng chi trả cổ tức sẽ giảm bớt dòng tiền tự do, tránh việc đầu tư vào các dự án kém hiệu quả của nhà quản lý. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo Jensen (1986), nợ cũng có vai trò trong việc giảm dòng tiền tự do, từ đó làm giảm chi phí đại diện. Bebchuk và cộng sự (2000) phân tích chi phí đại diện trong cấu trúc kiểm soát- thiểu số (Controlling-minority structures – CMS) theo ba nội dung chính: vấn đề lựa chọn các dự án đầu tư; vấn đề lựa chọn quy mô công ty; vấn đề chuyển giao quyền kiểm soát. Theo họ, khi phải lựa chọn đầu tư vào hai dự án, các cổ đông kiểm soát trong CMS sẽ thích đầu tư vào dự án đem lại lợi ích cá nhân lớn hơn bất chấp tổng lợi ích của công ty thấp hơn hoặc thậm chí gây thiệt hại lợi ích cho công ty.

Cổ đông kiểm soát cũng sẽ thích đầu tư mở rộng quy mô công ty hơn là thanh lý bớt tài sản và chia đều giá trị thu được cho tất cả các cổ đông khác… Bebchuk và cộng sự (2000) cũng gợi ý hai khả năng giúp hạn chế chi phí đại diện trong CMS là thiết lập danh tiếng trong công ty và gia tăng hệ thống pháp luật bảo vệ nhà đầu tư. Nghiên cứu xem xét vai trò cổ tức trong việc giảm chi phí đại diện thông qua hệ thống pháp luật của La Porta và cộng sự (2000) đưa ra hai mô hình đại diện của cổ tức: mô hình kết quả (outcome model) và mô hình thay thế (substitute model). Kết quả của họ ủng hộ với dự báo của mô hình kết quả: các công ty ở những nước có hệ thống pháp luật bảo vệ nhà đầu tư tốt (Common Law), cổ tức được chi trả cao hơn những nước có có hệ thống pháp luật bảo vệ nhà đầu tư kém (Civil Law). Hơn nữa, những nước hệ thống pháp luật tốt, công ty tăng trưởng cao chi trả cổ tức thấp hơn công ty tăng trưởng thấp, cho thấy trong môi trường mà nhà đầu tư được luật pháp bảo vệ tốt, họ chấp nhận mức cổ tức thấp khi cơ hội tăng trưởng công ty là cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ