Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại thời điểm này nắm giữ khoảng 74% tổng lợi nhuận toàn ngành công nghiệp nhưng lại bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng về hiệu quả sử dụng vốn và năng suất lao động. Tình trạng độc quyền nhà nước bị biến tướng thành độc quyền doanh nghiệp tại các tổng công ty lớn như EVN, VNPT, Vietnam Airlines và các doanh nghiệp thương mại xăng dầu đã đẩy mặt bằng chi phí đầu vào của nền kinh tế lên cao bất hợp lý, làm suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là tính cấp bách và các rào cản thể chế trong quá trình sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa (CPH) các DNNN giữ vị thế độc quyền. Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích thực trạng hoạt động, đo lường tác hại kinh tế từ độc quyền kinh doanh, làm rõ các vướng mắc về định giá quyền sử dụng đất, tài sản vô hình và xử lý lao động dôi dư. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp tài chính và cơ chế quản lý đồng bộ nhằm hoàn thành mục tiêu CPH toàn diện trước năm 2010 theo định hướng của Chính phủ.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực tiễn tại Việt Nam từ năm 1991 đến tháng 6 năm 2007, tập trung vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thuộc các ngành trọng yếu gồm điện lực, viễn thông, hàng không, hóa chất, ngân hàng và vật liệu xây dựng. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học để đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc, thúc đẩy các doanh nghiệp sau CPH đạt mức tăng trưởng vốn điều lệ bình quân 44% và gia tăng lợi nhuận thực hiện tới 139,76%, góp phần minh bạch hóa thị trường vốn và thực hiện cam kết mở cửa hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hiện đại về công ty cổ phần, tập trung vào cơ chế phân tán rủi ro và sự tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu tài sản (ownership rights) và quyền điều hành kinh doanh (control rights). Mô hình công ty cổ phần cho phép doanh nghiệp huy động nguồn vốn đại chúng không giới hạn thông qua phát hành chứng khoán, chấm dứt tình trạng phụ thuộc vào bầu sữa ngân sách nhà nước, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát chéo từ các cổ đông tư nhân và thị trường tài chính.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng lý thuyết kinh tế học vi mô về cấu trúc thị trường và tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền gây ra. Khi doanh nghiệp độc quyền nắm quyền định đoạt giá bán cao hơn chi phí biên (P > MC), sản lượng cung ứng sẽ thấp hơn mức tối ưu xã hội, tạo ra phần mất không của xã hội (deadweight loss). Luận văn làm rõ sự khác biệt bản chất giữa "độc quyền tự nhiên" xuất phát từ tính kinh tế theo quy mô với "độc quyền hành chính" hình thành do các mệnh lệnh bảo hộ chủ quan từ phía cơ quan quản lý. Ba khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: chuyển đổi sở hữu, đa dạng hóa cấu trúc vốn và quản trị công ty đại chúng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu thực chứng gồm 850 DNNN đã hoàn tất CPH và hoạt động ổn định trên 1 năm (được chọn lọc từ tổng số 3.000 DN đã CPH trên toàn quốc tính đến tháng 6/2006). Mẫu nghiên cứu còn kết hợp dữ liệu hoạt động chuyên sâu từ 18 Tổng công ty 91 và 46 Tổng công ty 90 đại diện cho các ngành kinh tế huyết mạch.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo ngành nghề kinh doanh nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả khối sản xuất, dịch vụ công ích và tài chính ngân hàng. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu chuỗi thời gian (1991 - 2007) và phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (case studies) tại Vietcombank, Petrovietnam và Vietnam Airlines. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này là nhằm bóc tách chính xác những con số lãi danh nghĩa phát sinh từ đặc quyền bảo hộ giá, từ đó đánh giá thực chất năng lực sinh lời của đồng vốn nhà nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả khảo sát 850 doanh nghiệp sau CPH khẳng định sự vượt trội về hiệu quả hoạt động so với mô hình cũ: vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu tăng 23,6%, nộp ngân sách tăng 24,9% và lợi nhuận thực hiện bình quân tăng vọt 139,76%. Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi đạt tới 90%, mức chi trả cổ tức bình quân đạt 17,11%/năm, thu nhập người lao động tăng 12% và quy mô lao động mở rộng thêm 6,6%.

Thứ hai, hiệu quả sử dụng vốn của khối DNNN trước CPH còn rất thấp so với nguồn lực được giao. Giai đoạn 2002 - 2004, quy mô vốn trung bình của một DNNN tăng gần 40 lần (đạt mức 129,9 tỷ đồng) nhưng hiệu quả kinh doanh chỉ tăng vỏn vẹn 2,2 lần. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của 46 Tổng công ty 90 chỉ đạt mức 2,07% (giảm 5,62% so với năm 2002). Tình trạng thua lỗ diễn ra trên diện rộng, điển hình là khoản lỗ lũy kế lên đến 3.000 tỷ đồng của 38 nhà máy đường.

Thứ ba, chi phí do độc quyền kinh doanh tại Việt Nam đang làm xói mòn năng lực cạnh tranh quốc gia. Tỷ lệ thất thoát điện năng trong truyền tải và phân phối của EVN lên tới 12,37%, cao hơn nhiều so với mức 6% - 9% của Thái Lan. Ngành viễn thông cần tới 50 lao động trên 1.000 đường thuê bao chính (trong khi Thái Lan chỉ cần 7,3 người). Phí vận hành bốc xếp tàu 10.000 tấn tại Cảng Sài Gòn lên tới 40.000 USD, cao gấp đôi mức 20.000 USD tại Cảng Bangkok.

Thứ tư, tiến độ CPH các tổng công ty lớn và ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) diễn ra quá chậm chạp. Đến giữa năm 2007, toàn bộ khối NHTMNN vẫn chưa hoàn thành CPH dù Vietcombank đạt mức lợi nhuận trước thuế 1.894 tỷ đồng năm 2006 và sở hữu tổng tài sản lên tới 45.743 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm có thể được trình bày rõ nét qua bảng tổng hợp so sánh các chỉ tiêu tài chính trước và sau chuyển đổi, kết hợp biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch chi phí dịch vụ logistics và viễn thông giữa Việt Nam với các nước ASEAN. Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng kém hiệu quả xuất phát từ việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Cơ chế định giá lỏng lẻo cho phép doanh nghiệp đưa mọi chi phí lãng phí quản lý vào giá bán, tước đoạt quyền lựa chọn của người tiêu dùng.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc đã thành công khi sớm CPH và đưa các ngân hàng quốc doanh lớn lên niêm yết tại các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế, trong khi bài học từ quá trình tư nhân hóa ồ ạt tại Nga cảnh báo nguy cơ thất thoát tài sản công nếu thiếu cơ chế kiểm soát minh bạch. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng Việt Nam không thể trì hoãn CPH các lĩnh vực then chốt nếu muốn hội nhập WTO thành công.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý và cơ chế định giá doanh nghiệp minh bạch. Bộ Tài chính cần chủ trì nâng cấp các thông tư hướng dẫn thành văn bản luật thống nhất, chuẩn hóa phương pháp xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường, đồng thời đưa giá trị tài sản vô hình và giá trị thương hiệu vào tổng giá trị doanh nghiệp trước quý IV năm 2008.

Thứ hai, tách bạch triệt để chức năng quản lý hành chính nhà nước với quyền đại diện chủ sở hữu vốn. Chuyển giao toàn bộ quyền đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau CPH về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), giảm tỷ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước xuống dưới mức 51% tại các ngành phi chiến lược trước năm 2010.

Thứ ba, phát triển đồng bộ thị trường vốn và gắn kết CPH với niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đặt mục tiêu 100% các tập đoàn, tổng công ty lớn sau khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) phải thực hiện niêm yết trên sàn HOSE hoặc HNX trong vòng 12 đến 24 tháng nhằm đảm bảo tính thanh khoản và minh bạch thông tin tài chính.

Thứ tư, kiên quyết dỡ bỏ rào cản gia nhập ngành để kích thích cạnh tranh bình đẳng. Cục Quản lý Cạnh tranh và Bộ Công Thương cần thực thi nghiêm túc Luật Cạnh tranh, mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, viễn thông và bảo hiểm cho các thành phần kinh tế tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo đúng cam kết WTO giai đoạn 2007 - 2012.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý và hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Đổi mới Doanh nghiệp: Nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý vốn công, phương pháp định giá tài sản vô hình và lộ trình thoái vốn nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước: Vận dụng quy trình tái cấu trúc sang mô hình công ty mẹ - công ty con, tháo gỡ các vướng mắc tài chính về nợ tồn đọng và giải quyết chính sách an sinh cho lao động dôi dư.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao với hệ thống dữ liệu thực chứng phong phú về kinh tế chuyển đổi và tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp.

Các quỹ đầu tư tài chính, công ty chứng khoán và chuyên viên phân tích thị trường: Khai thác bức tranh toàn cảnh về cơ cấu tài sản, tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận và cơ hội định giá lại cổ phiếu của các doanh nghiệp đầu ngành chuẩn bị IPO.

Câu hỏi thường gặp

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có đồng nghĩa với tư nhân hóa toàn bộ không? Không. Luận văn phân tích rõ CPH tại Việt Nam là quá trình đa dạng hóa sở hữu nhằm huy động vốn và đổi mới quản trị. Nhà nước vẫn duy trì tỷ lệ cổ phần chi phối trên 51% tại các ngành huyết mạch như năng lượng hay hạ tầng mạng viễn thông để giữ vai trò chủ đạo điều tiết vĩ mô.

Độc quyền doanh nghiệp nhà nước gây ra những thiệt hại cụ thể nào cho nền kinh tế? Độc quyền đẩy mặt bằng giá đầu vào lên cao và làm suy giảm năng lực cạnh tranh. Cước vận tải container 40 feet tại Việt Nam đắt gấp 3 lần từ Singapore đi Nhật, chi phí bốc dỡ tại Cảng Sài Gòn lên tới 40.000 USD (gấp đôi Bangkok), tạo gánh nặng chi phí lớn cho các ngành sản xuất.

Hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thay đổi ra sao sau khi tiến hành CPH? Khảo sát 850 doanh nghiệp sau CPH hoạt động trên 1 năm cho thấy lợi nhuận bình quân tăng vọt 139,76%, vốn điều lệ tăng 44% và doanh thu tăng 23,6%. Đặc biệt, 90% số doanh nghiệp đạt kết quả kinh doanh có lãi và đóng góp nộp ngân sách nhà nước tăng 24,9%.

Tại sao việc định giá quyền sử dụng đất và thương hiệu là rào cản lớn nhất khi CPH? Do thiếu các tổ chức thẩm định giá độc lập và cơ chế định giá theo thị trường chưa hoàn thiện. Đất đai thường bị tính theo khung giá nhà nước thấp hơn nhiều so với giá thị trường, trong khi giá trị thương hiệu chưa được lượng hóa đầy đủ, dễ gây nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước.

Cam kết gia nhập WTO tạo ra áp lực gì đối với lộ trình cổ phần hóa tại Việt Nam? Việt Nam cam kết mở cửa thị trường ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, viễn thông và phân phối bán lẻ cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài từ năm 2007 - 2009. Điều này buộc các DNNN phải CPH trước năm 2010 để tự chủ tài chính và nâng cao sức cạnh tranh, tránh nguy cơ tụt hậu.

Kết luận

  • Cổ phần hóa DNNN độc quyền là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thời kỳ hậu WTO.
  • Thực tiễn CPH hơn 3.000 doanh nghiệp mang lại bước nhảy vọt về hiệu quả tài chính với lợi nhuận bình quân tăng trưởng 139,76%.
  • Cần kiên quyết xóa bỏ độc quyền kinh doanh tại các ngành trọng điểm như điện lực, viễn thông, hàng không và ngân hàng thương mại.
  • Minh bạch hóa quy trình định giá quyền sử dụng đất, tài sản vô hình và giải quyết thỏa đáng chế độ cho lao động dôi dư.
  • Tách bạch chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước thông qua SCIC và gắn liền phát hành IPO với niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Luận văn đóng góp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp tài chính toàn diện nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho khu vực kinh tế nhà nước. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các bộ ngành khẩn trương hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và hoàn tất CPH các tổng công ty quy mô lớn trước hạn định năm 2010. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác sâu các phân tích thực chứng trong tài liệu để ứng dụng hiệu quả vào công cuộc tái cấu trúc kinh tế hiện nay.