chương 1 Do là loại hình DN dựa trên sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất, lại được giao độc quyền kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, và được sự bảo trợ từ Nhà nước,… vì thế các DNNN đã trở nên độc quyền, chuyên chế. Các DNNN này không những không phát huy hết năng lực vốn được sự đầu tư rất lớn từ Nhà nước mà trái lại còn có tác dụng kiềm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Đứng trước thực trạng này cũng như nhu cầu xã hội hóa sản xuất, hội nhập KTQT, việc cải cách DNNN, xoá bỏ độc quyền DNNN là một nhu cầu bức bách, một qui luật tất yếu. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2 Thực trạng độc quyền của các DNNN và tính tất yếu phải CPH DNNN độc quyền 2.1/ Thực trạng độc quyền của DNNN và những tác hại đối với nền kinh tế Giữ vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực then chốt, phải công tâm mà nói, trong thời gian qua các DNNN trong các lĩnh vực độc quyền đã có những đóng góp đáng kể, góp phần quan trọng cho việc bình ổn cũng như phát triển của nền kinh tế.1/ Một số thành tựu của DNNN đối với nền kinh tế Những thành tựu nổi bật mà hệ thống các DNNN đã đóng góp cho nền kinh tế có thể được dẫn chứng ở một số các lĩnh vực trọng yếu như: Công nghiệp hóa chất Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (1986), công nghiệp Hóa chất nước ta đã có những bước phát triển tăng vọt cả về số lượng và chất lượng.
Số lĩnh vực sản xuất tăng nhanh và tỷ lệ giữa các lĩnh vực cũng thay đổi, trong đó lĩnh vực sản xuất tư liệu sản xuất phát triển mạnh, các chuyên ngành như Hóa chất cơ bản, nguồn điện hóa học đã khẳng định được vị thế của mình bên cạnh các ngành phân bón, cao su và một số ngành truyền thống khác. Sản phẩm của công nghiệp Hóa chất, đặc biệt phân bón, thuốc trừ sâu, săm lốp xe đạp, xà phòng. đã là các sản phẩm không thể thiếu được trong sản xuất và đời sống của người dân. Về cơ cấu ngành, trong công nghiệp Hóa chất đã hình thành một số chuyên ngành rất quan trọng đối với nền kinh tế như: Công nghiệp Hoá chất phục vụ nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật); Công nghiệp mỏ hoá chất; Công nghiệp cao su, Công nghiệp hóa chất cơ bản; Công nghiệp các sản phẩm điện hóa; Công nghiệp chất giặt rửa.
và các chuyên ngành này đã có tỷ trọng tương đối cao trong giá trị tổng sản lượng công nghiệp. Công nghiệp Hoá chất luôn có tốc độ phát triển bình quân cao: đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 20% trong thời kỳ 1991 - 1995 và 15 - 16% trong thời kỳ 1996 - 2000, và là một trong số các ngành có hệ số tăng trưởng cao nhất của Ngành Công nghiệp. Trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21, Công 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp Hóa chất Việt Nam hoạt động trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội thế giới có nhiều biến động phức tạp, trong nước, chúng ta lại gặp nhiều khó khăn do thiên tai, lũ lụt ở nhiều vùng rộng lớn. Việc giảm thuế nhập khẩu phân bón đã làm tăng sự cạnh tranh đối với các sản phẩm này trên thị trường, tình trạng gian lận thương mại chậm được khắc phục và từ năm 2002 đến nay giá vật tư đầu vào sản xuất như xăng dầu, các nguyên liệu sản xuất phân bón (u rê, DAP, lưu huỳnh.
liên tục tăng giá mạnh đã làm cho sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong Ngành gặp rất nhiều khó khăn. Đứng trước những thách thức to lớn đó, Công nghiệp Hóa chất, trong đó đặc biệt là các DNNN thuộc Tổng công ty Hóa chất Việt Nam, vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong nhiều năm (năm 2000: 19,91%; 2001: 8,97%; 2002: 13,7%; 2003: 16,4%; và 2004 15%). Cụ thể, về sản phẩm, công nghiệp Hoá chất nước ta đã có thể sản xuất và cung cấp 100% nhu cầu về phân lân chế biến, 30% nhu cầu về phân u rê; gia công thoả mãn hầu hết nhu cầu thuốc bảo vệ thực vật; sản xuất thoả mãn hầu hết nhu cầu về săm lốp xe đạp, ô tô, xe máy; bột giặt, pin điện; ắc quy và que hàn điện thông dụng. Nhiều loại sản phẩm trong Ngành là sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, nhiều năm liền được bình chọn vào "TOP TEN" hoặc Hàng Việt Nam chất lượng cao.
Có một số sản phẩm như lốp ô tô, xe máy của CASUMINA, DRC, SRC, phân bón nhãn hiệu "Đầu Trâu" của Công ty Phân bón Bình Điền; ắc quy của PINACO. đã được xuất khẩu với số lượng lớn sang thị trường khu vực và thế giới và đã được người tiêu dùng đánh giá cao. Theo đánh giá, công nghiệp Hoá chất nước ta, chủ yếu là các DN Trung ương, đang là trụ cột và chiếm đến 70% giá trị toàn Ngành. Hiện tại, giá trị tổng sản lượng của công nghiệp Hoá chất chiếm tỷ lệ khoảng 10,4% giá trị tổng sản lượng công nghiệp và khoảng 5% GDP cả nước.
Lĩnh vực ngân hàng Trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới có nhiều biến cố lớn như cuộc khủng khoảng tài chính và tiền tệ năm 1997; đồng tiền chung Châu âu ra đời; sự cố máy tính; sự sáp nhập của các Tập đoàn kinh tế; định chế trong hệ thống tài 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính ngân hàng thế giới tiếp tục diễn ra;… đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, cùng với những biện pháp tháo gỡ khó khăn linh hoạt của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cộng với những cố gắng, nỗ lực lớn lao của chính mình, các NHTMNN vẫn luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định liên tiếp qua các năm. Hoạt động Tín dụng của Ngân hàng đã được cải tiến về nhiều mặt đảm bảo được chất lượng tốt, các dịch vụ ngân hàng luôn được cải tiến về chất lượng và đa dạng hóa nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương là một trong những đơn vị đầu đàn trong lĩnh vực ngân hàng đã đạt được những thành tựu đáng kể Tình hình tài chính của Ngân hàng Ngoại thương qua các năm.
Đơn vị tính: Tỷ đồng Việt Nam Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Chỉ tiêu LN/Tổng TS có 0.33% LN/Vốn tự có 9.99% Thu nhập cả năm - Tổng thu nhập 2.157 - TN ròng từ lãi 583 713 1.068 - LN trước thuế 187 212 313 329 877 1.894 Các chỉ số khác - Tổng TS 45.743 - Tổng tiền gửi 33.127 (Theo Báo cáo thường niên Ngân hàng Ngoại thương) Lĩnh vực Dầu khí Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Tập đoàn Dầu khí Việt nam đã tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao, kết quả đạt được qua từng năm hết sức khả quan. Cụ thể 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đơn vị tính: Triệu USD 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Doanh thu thuần 1.007 Giá vốn hàng bán 459 479 479 686 622 1.097 977 992 Lãi khác 5 7 16 15 Chi phí bán hàng 5 9 18 31 29 29 Chi phí quản lý 13 12 27 27 53 63 Lãi hoạt động 746 593 553 1.014 912 914 Chi phí hoạt động tài chính 11 12 9 7 3 6 Lãi từ các hoạt động liên doanh 21 17 52 70 82 104 Lợi nhuận trước thuế 755 598 596 1.012 Thuế lợi tức 286 229 191 424 365 404 Lợi nhuận sau thuế 469 369 405 680 626 609 Quyền lợi cổ đông thiểu số 223 165 1 1 -1 -1 Lợi nhuận ròng 246 204 404 679 627 610 (Theo Ban Tài chính – kế toán) Đặc biệt doanh thu xuất khẩu dầu thô 6 tháng đầu năm 2007 đạt 3.7 tỷ USD Lĩnh vực hàng không Trong môi trường kinh doanh với những khó khăn như: Giá thuê máy bay và giá xăng dầu, nhiên liệu bay tăng cao; Dịch cúm gia cùm bùng phát trở lại tại nhiều tỉnh và thành phố của Việt Nam; tình trạng quá tải khách sạn và giá thuê phòng tăng cao tại các thành phố lớn trong mùa du lịch và lễ hội đã làm suy giảm đáng kể lượng khách quốc tế vào Việt Nam trong quí II /2007,… Trong 6 tháng đầu năm 2007, thị trường vận tải hàng không vẫn tiếp tục tăng trưởng cao (tăng 17,6% so với cùng kỳ 2006). Với kết quả như sau Kết quả thực hiện kế hoạch 6 tháng đầu năm 2007 - Tổng doanh thu 6 tháng đầu năm của TCT Hàng không Việt Nam ước đạt 9. - Lợi nhuận trước thuế ước đạt 204, 9 tỷ đồng, đạt trên 57% kế hoạch năm, trong đó lợi nhuận trong vận chuyển hành khách và hàng hóa của VNA đạt 213, 3 tỷ đồng, đạt 56,42% kế hoạch.
22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nộp Ngân sách Nhà nước: Toàn TCT ước thực hiện 120 tỷ đồng, đạt 59,78% kế hoạch năm. Kết quả vận chuyển hàng khách và hàng hóa - Trong 6 tháng đầu năm, VNA thực hiện 31.140 chuyến bay an toàn; vận chuyển 3.376 lượt hành khách, đạt 49,8% kế hoạch năm và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó khách nội địa là 2.457 người, tăng 23,9% so với cùng kỳ 2006, khách quốc tế 1.919 người, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2006. - Về vận chuyển hàng hóa và bưu kiện: Hãng cũng đã vận chuyển trên 53.385 tấn, đạt 44,7% kế hoạch năm, bằng 99% so với cùng kỳ năm ngoái. - Hệ số sử dụng ghế bình quân 6 tháng đầu năm đạt 74,3%, tăng 1,5 điểm so với cùng kỳ 2006; trong đó: hệ số sử dụng ghế nội địa là 84,9%, hệ số sử dụng ghế quốc tế là 71%.
- Bình quân mỗi ngày vận chuyển 20.452 lượt khách /ngày. - Công ty bay dịch vụ VASCO trong 6 tháng đầu năm thực hiện 1.670 giờ bay, vận chuyển 63.727 lượt hành khách, đạt 45% kế hoạch năm và mức doanh thu 40, 8 tỷ đồng, đạt 45,3% kế hoạch năm. Những thành tựu kể trên một mặt nào đó đã phản ánh sự đóng góp của các DNNN vào sự ổn định và phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên nếu đi sâu vào hiện trạng của từng nơi mới nhận thấy rằng những thành tựu trên không hề phản ánh năng lực thực có của DN.
Nếu không có sự bảo trợ của Nhà nước thì không thể đạt được những thành tựu kể trên.