Chương 1: Lý luận chung về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (CPH DNNN) và hiệu quả sau cổ phần hoá (CPH) I. Giới thiệu chung về công ty cổ phần, loại hình công ty quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Khái niệm về loại hình công ty cổ phần. Từ trước những năm 90, thuật ngữ công ty được dùng ở Việt Nam cho các loại tổ chức kinh tế, kinh doanh thương mại để tránh nhầm lẫn với các loại thuật ngữ khác như nhà máy, xí nghiệp… chỉ các đơn vị sản xuất khác.
Luật công ty chỉ xuất hiện lần đầu ở Việt Nam vào ngày 21/12/1990 do Quốc hội thông qua với định nghĩa nói rằng công ty là “ doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty”1 Căn cứ vào tính chất và qui chế của các loại công ty theo luật Doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) do quốc hội thông qua 12/6/1999, có thể nhận thấy công ty theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau đây:2 - Là loại hình doanh nghiệp (DN) được thành lập bằng cách góp vốn của các thành viên. - Thành viên góp vốn có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, công ty có thể có một hoặc nhiều thành viên,thành viên của công ty có thể đuợc quy định tối đa hay tối thiểu. - Công ty có thể thuộc sở hữu của một chủ (một chủ sở hữu) hoặc thuộc sở hữu chung của nhiều đồng chủ sở hữu. - Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân.
- Có thể là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn hoặc chịu trách nhiệm vô hạn. 1 Trang 61-Giáo trình Luật kinh tế-Nhà xuất bản Đại học quốc gia 2001-PGS.Nguyễn Hữu Viện 2 Trang 61-Giáo trình Luật kinh tế-Nhà xuất bản Đại học quốc gia 2001-PGS.Nguyễn Hữu Viện Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 Nguyễn Thị Mai Chinh QLKT44B Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có các điểm sau đây:1 - Vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông có thể là một tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa. - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo qui định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Cổ phần công ty bao gồm; cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. - Cổ phần phổ thông là “loại cổ phần bắt buộc phải có của công ty cổ phần.Người sở hữu cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông”2 - Cổ phần ưu đãi là “cổ phần có được những ưu đãi về quyền lợi nhất định so với cổ phần phổ thông.Công ty cổ phần có thể có hoặc không có cổ phần ưu đãi.Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi”3 2. Thực chất của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (CPH DNNN).
Hội nghị lần thứ II của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 11 năm 1991) đã đề ra chủ trương CPH DNNN. Nghị quyết Hội nghị ghi rõ “Chuyển một số DN quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp. Đây là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đổi mới và phát triển kinh tế đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa” 4. Có thể hiểu việc CPH DNNN chính là quá trình “ chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thành công ty cổ phần ”.5 1 Trang 65-Giáo trình Luật kinh tế-Nhà xuất bản Đại học quốc gia 2001-PGS.Nguyễn Hữu Viện 2 Trang 66-Giáo trình Luật kinh tế-Nhà xuất bản Đại học quốc gia 2001-PGS.Nguễn Hữu Viện 3 Trang 67-Giáo trình Luật kinh tế-Nhà xuất bản Đại học quốc gia 2001-PGS.Nguyễn Hữu Viện 4 www.vn - Bộ Kế hoạch và đầu tư- 14/4/2006 5 Trang 390-Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân tập 2-Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 Nguyễn Thị Mai Chinh QLKT44B CPH DNNN được coi là một biện pháp chuyển DN từ sở hữu Nhà nước sang hình thức đa sở hữu trong đó Nhà nước vẫn nắm giữ một phần sở hữu nào đó. - Đầu tiên phải xem xét cổ phần hoá về mặt chất thì cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển đổi hình thái kinh doanh truyền thống từ một chủ sở hữu(Nhà nước) để tạo ra một mô hình kinh doanh mới đa dạng hơn phù hợp với nền kinh tế thị trường. - Tiếp đến nếu xét về mặt hình thức thì cổ phần hoá lại là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các cho các tổ chức, cá nhân, công nhân viên chức…bằng các hình thức như đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành nên những loại hình công ty mới ; công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Về mặt lịch sử thì công ty cổ phần cũng được coi như sản phẩm của quá trình tiến hoá, nó gắn với “ xã hội hoá sở hữu tư nhân trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa”1.
Vai trò và tác dụng của công ty cổ phần được thể hiện như sau: - Khi quá trình CPH được tiến hành sẽ hình thành những công ty cổ phần là loại hình công ty có nhiều chủ sở hữu (thông qua số cổ phần mà họ nắm giữ). Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong phạm vi số cổ phần của mình. Việc này giúp cho công ty có tư cách pháp lý đầy đủ để huy động được tiềm lực kinh tế của xã hội một cách tốt nhất. - Sự ra đời của công ty cổ phần là kết quả của sự vận động tách biệt của mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh.
Nhờ vậy, cơ cấu tổ chức ở công ty cổ phần đã được thiết kế sao cho mối quan hệ giữa hai quyền này có thể tạo nên một hình thái xã hội hai sở hữu giữa một bên là đông đảo công chúng mua cổ phần với một bên là đội ngũ các nhà quản lý kinh doanh chuyên nghiệp sủ dụng tài chinh cho hoạt động sản xuất kinh doanh 2. Tại nền kinh tế thị trường công ty cổ phần đã phát triển một cách mạnh mẽ từ đó hình thành nên những tập đoàn kinh tế lớn có quy mô đa quốc gia. Sự tồn tại và duy trì hoạt động của các công ty cổ phần sẽ ngày càng ít dựa vào mối quan 1 Trang 391-Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân tập 2-Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. 2 Trang 391-Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân tập 2-Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 Nguyễn Thị Mai Chinh QLKT44B hệ sở hữu giữa các cổ đông mà phụ thuộc nhiều vào các ở hình thức chức năng và hoạt động quản trị điều hành công ty. - Với sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán việc trao đổi, mua bán cổ phiếu và trái phiếu thông thường của các công ty cổ phần ngày càng trở nên dễ dàng và thuận lợi. Nếu như có thay đổi các cổ đông (chủ sở hũu) thì DN vẫn có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh của nó như bình thường. Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán giúp cho nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được di chuyển một cách hợp lý và linh hoạt hơn.
Khi mà thị trường chứng khoán ngày càng được hoàn thiện thì khả năng huy động vốn của nó là hết sức rộng rãi. Đây cũng là nơi sắp xếp và có khả năng phân phối lại các cơ hội đầu tư theo nhu cầu của doanh ngiệp và nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán thường rất nhạy cảm với thay đổi của nền kinh tế.Vì vậy Nhà nước với tư cách là một “Tư bản tài chính” 1 lớn nhất sẽ dùng thị trường chứng khoán như một công cụ để điều tiết các luồng tài chính và tiền tệ nói chung bằng cách quy định các hoạt động của nó như bơm vào hay hút ra các luồng công trái, trái phiếu chính phủ từ đó điều chỉnh một phần khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế. Tính tất yếu khách quan phải tiến hành cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước.
Khái niệm, vai trò và thực trạng hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước hiện nay. Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước. DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao.2 DNNN là DN có tư cách pháp nhân, có các quyền được ghi rõ trong Luật DNNN do quốc hội thông qua ngày 20/4/1995(bao gồm cả quyền và nghĩa vụ dân sự) chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi nguồn vốn do DN quản lý3. 1 Trang 392-Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân tập 2-Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật 2 Trang 387-Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân tập 2-Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật 3 Điều 1-Luật Doanh nghiệp Nhà nước- 20/4/1995 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9 Nguyễn Thị Mai Chinh QLKT44B Doanh nghiệp Nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau ; - Trước tiên DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập để thực hiện những mục tiêu do Nhà nước giao phó.
- Tiếp theo DNNN hoạt động bằng nguồn vốn do Nhà nước cấp nên toàn bộ tài sản ban đầu của DN đều thuộc sở hữu Nhà nước vì thế DN quản lý, sử dụng tài sản theo qui định của chủ sở hữu là Nhà nước. - Sau nữa DNNN có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo qui định của pháp luật. - Cuối cùng doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi tài sản mà doanh nghiệp có.