Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có nhiệm vụ cung cấp cơ sở lí thuyết nền tảng của luận án. Trong chương này, chúng tôi tổng thuật tình hình nghiên cứu cổ mẫu trong văn học, giới thiệu khái niệm cổ mẫu và những đặc điểm của cổ mẫu và cách phân loại cổ mẫu của các trường phái nghiên cứu tiêu biểu. Sau đó, chúng tôi đề xuất một số khái niệm và cách phân loại cổ mẫu được sử dụng trong 9 luận án.
Bên cạnh đó, chương tổng quan cũng dành một phần để giới thiệu tình hình nghiên cứu và tiếp nhận phân tâm học tại Nhật Bản trong thế kỉ XX và điểm qua một số quan điểm nghiên cứu nổi bật của các học giả Phân tâm học Nhật Bản. Phần ba của chương, trình bày lịch sử vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Murakami và Kafka nhìn từ phê bình cổ mẫu để cung cấp một cái nhìn bao quát về vấn đề nghiên cứu ở phạm vi Việt Nam và thế giới. Cổ mẫu biểu tượng trong tiểu thuyết Haruki Murakami, trong so sánh với Franz Kafka Chương hai của luận án có nội dung hướng vào việc phân tích, kiến giải dạng thức cổ mẫu biểu tượng thông qua ba cổ mẫu được chọn lựa là cổ mẫu người hùng, cổ mẫu hang và cổ mẫu bóng. Nội dung của chương hướng vào trọng tâm làm rõ đặc điểm và giá trị tư tưởng của ba cổ mẫu này trong các tiểu thuyết của hai nhà văn Kafka và Murakami, từ đó chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về mặt phong cách tự sự của hai tác giả.
Cổ mẫu người hùng trong phần 2.1 xác định kiểu nhân vật đặc trưng trong tiểu thuyết của Murakami và Kafka là kiểu người hùng nạn nhân và người hùng thiền giả, phân tích ý nghĩa của chúng trong việc truyền đạt góc nhìn của hai nhà văn về vấn đề số phận con người trong hai giai đoạn lịch sử. Mô hình quan niệm và sự quan sát thế giới của hai nhà văn phản chiếu qua cổ mẫu hang – hình ảnh có tính chất như một không gian nguyên thuỷ - nơi phát khởi của loài người. Trong phần cổ mẫu bóng, cổ mẫu bóng của Murakami – trong ý nghĩa nội hàm là cái bóng (shadow) theo khái niệm của Jung, đã phản ánh tình trạng khủng hoảng căn tính của con người hiện đại, trong khi đó bóng tối trong tiểu thuyết của Kafka lại là hình ảnh mang ý nghĩa kí hiệu, biểu tượng của thứ quyền lực tuyệt đối đã và đang thống trị nhân loại. Cổ mẫu motif trong tiểu thuyết Haruki Murakami, trong so sánh với Franz Kafka Chương ba tiếp tục tìm hiểu dạng thức thứ hai là cổ mẫu motif, với ba motif cùng xuất hiện trong tiểu thuyết của hai nhà văn Murakami và Kafka là: motif biến dạng, motif hành trình và motif cái chết và sự tái sinh.
Motif biến dạng phản ánh tình trạng tha hóa của con người trong tiểu thuyết Franz Kafka, trong khi đó, qua motif biến dạng, nhà văn người Nhật Murakami lại thể hiện một cách độc đáo sự tồn tại đa thể thức của con người hiện đại. Cùng khai thác motif hành trình đi đến một nơi khác – motif kinh điển của văn học thế giới nhưng Hành trình của Kafka chủ yếu nhằm khám phá sự phi lý của số phận con người và hiện thực xã hội trong thời đại kĩ trị, khi máy móc và chủ nghĩa toàn trị đang lên ngôi. Còn hành trình của Murakami lại hướng vào khám phá hiện thực đa diện của tinh thần và quá trình hoàn thiện bản ngã của con người. Với motif Cái chết – sự tái sinh, ở tiểu thuyết của Kafka, motif này mang ý nghĩa và sự đánh dấu cho quá trình thức tỉnh hiện sinh của con người trong 10 giai đoạn sơ kì hiện đại.
Trong khi đó, trong nhãn quan của Murakami, cái chết - sự tái sinh thể hiện những thông điệp mang tính triết - mĩ phương Đông, rất gần với quan niệm sinh tử trong triết học Phật giáo và gần gũi với hình thức các nghi lễ cổ xưa của con người. Cổ mẫu huyền thoại trong tiểu thuyết Haruki Murakami, trong so sánh với Franz Kafka Trong chương cuối của luận án, chúng tôi tiến hành khai thác cổ mẫu từ cấp độ huyền thoại – cấp độ cao nhất và rộng nhất trong ba cấp độ cổ mẫu. Hai huyền thoại được chọn nghiên cứu trong chương này là Oedipus và Orpheus. Phần thứ nhất của chương 4.1, trên việc cắt nghĩa hai cổ mẫu Cha và cổ mẫu Mẹ (thể hiện trong hai mối quan hệ cha – con trai và mẹ - con trai - hai hạt nhân của huyền thoại Oedipus), chúng tôi so sánh cách thức biểu hiện và chức năng của chúng trong việc truyền đạt nội dung tư tưởng, quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới trong các tác phẩm của hai nhà văn.
Cụ thể, ở Kafka đó là nỗi ám ảnh của sức mạnh nam quyền trong hình tượng người cha trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết. Còn ở Murakami (thông qua việc so sánh các phiên bản Oedipus trong văn học Nhật Bản và trong tiểu thuyết Kafka bên bờ biển) là sự trình hiện một quyền lực tính nữ mang đậm tinh thần văn hoá Nhật Bản. Nội dung của phần 4.2 là sự tái xuất của huyền thoại Orpheus trong tiểu thuyết Murakami. Ở phần này, việc so sánh được tiến hành trong nội bộ nền văn học Nhật Bản.
Thông qua cách tiếp cận so sánh ba văn bản: huyền thoại Orpheus của Hy La, huyền thoại Izanami và Izanagi của Nhật Bản và tiểu thuyết Murakami, phần 4.2 khám phá những nét nghĩa mới mẻ trong nghệ thuật sáng tạo huyền thoại mới dựa trên những chủ đề huyền thoại có sẵn của phương Tây và văn học dân gian Nhật Bản, để truyền tải những thông điệp tư tưởng sâu sắc về hiện thực đời sống và con người hiện đại. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỔ MẪU TRONG VĂN HỌC Phê bình cổ mẫu là ngành nghiên cứu hình thành từ những thập niên 40, 50 và phát triển mạnh vào nửa sau thế kỉ XX, với dấu ấn nổi bật của ba nhà khoa học có xuất phát điểm từ các lĩnh vực khác nhau là Carl Gustav Jung, Gaston Bachelard và Northrop Frye. Mặc dù đến nay, sau hơn nửa thế kỉ, với sự ra đời của nhiều lí thuyết phê bình mới trong văn học, phê bình cổ mẫu không còn là một hướng tiếp cận mới mẻ, được nhiều người lựa chọn nhưng phương pháp tiếp cận này chưa bao giờ lỗi thời và vẫn phát huy được sức mạnh của nó nếu như được vận dụng vào những đối tượng phù hợp.
Phê bình cổ mẫu khởi nguồn từ hai phân khoa: tâm lý học phân tích và nhân học, bên cạnh đó còn có sự góp mặt của ngành folklore học. Cổ mẫu nhìn từ hướng tiếp cận tâm lý học Nghiên cứu cổ mẫu từ góc nhìn tâm lý học, cụ thể là phân tâm học hay còn gọi là Phân tâm học cổ mẫu (psychology archetype) là khởi nguồn của nghiên cứu cổ mẫu nói chung, đã đặt nền tảng cơ sở cho sự ra đời và phát triển của lý luận phê bình cổ mẫu trong văn học thế giới trong thế kỉ XX. Cha đẻ của nghiên cứu cổ mẫu chính là bác sĩ tâm lý, nhà tâm thần học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung (1875 – 1961). Ông cũng là người đã sáng lập trường phái tâm lý học phân tích (analytical psychology), phân biệt với trường phái phân tâm học (psychoanalysis) mà thầy ông - Sigmund Freud (1956 – 1939) đã thành lập trước đó.
Lý thuyết tâm phân học của C. Jung không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của nghiên cứu tâm lý học học hiện đại và còn ảnh hưởng sang các lĩnh vực khác có liên quan như: nhân học, thần thoại học, văn học và tôn giáo. Về cơ bản, Jung không tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi Điều gì đã thực sự tác động đến cách cư xử, hành vi của con người? bằng phương pháp giải phẩu, nhìn vào cấu tạo bộ não người như các nhà tâm lí học thuộc các trường phái trước ông đã làm. Thay vào đó, ông nhìn vào những hình ảnh xuất hiện trong các giấc mơ hay huyễn tưởng của con người, cũng như phân tích các trải nghiệm tâm thần của những bệnh nhân mà ông đã gặp để giải thích ý nghĩa của hành vi con người.
Đây chính là bản chất của phương pháp phân tích tâm lý theo trường phái Jung (Jungian analysis) mà giới nghiên cứu hay nhắc đến. Trong suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học miệt mài, trải dài hơn 60 năm, tập trung vào việc đi sâu tìm hiểu thế giới tâm thần – địa hạt sâu kín còn nhiều bí ẩn của con người, cuối cùng Jung đã tìm ra câu trả lời cho mình. Tất cả gói gọn trong khái niệm cổ mẫu (archetype). Trong lý thuyết của Jung, cổ mẫu là yếu tố tạo nên nguyên nhân sâu xa, căn cốt nhất, ảnh hưởng, tác động đến những suy nghĩ và hành vi con người.
12 Thuật ngữ “archetype” xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là “mẫu gốc” hay “nguyên mẫu”. Jung đã mượn khái niệm này để diễn tả một phạm trù quan trọng nhất trong lý thuyết của ông. Đối với Jung, thế giới tâm thần con người có một cấu trúc rất phức tạp, tinh vi và bí ẩn mà con người không thể nhìn thấy được hết, thậm chí không ý thức được chiều sâu bên trong của nó. Để hiểu được khái niệm cổ mẫu của Jung, cần đặt nó trong hệ thống các khái niệm khác, cũng thuộc về cấu trúc tâm thần con người mà ông phát hiện ra: Psyche (tâm thần); Ego (bản ngã); Conscious (ý thức); Individual unconscious (Vô thức cá nhân); Collective unconscious (vô thức tập thể) … Vì khái niệm cổ mẫu là phạm trù nằm trong khái niệm liên quan trực tiếp tới nó là “vô thức tập thể” (collective unconscious), nên muốn hiểu cổ mẫu, trước tiên cần hiểu được “vô thức tập thể” – hạt nhân trung tâm của lý thuyết tâm phân học của Jung, đây cũng là một trong những điểm phân biệt lý thuyết của Jung với lý thuyết của Sigmund Freud.
Jung chia Psyche – cấu trúc tâm thần con người làm ba phần chính gồm: ý thức, vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Ba vùng này không hoàn toàn biệt lập với nhau mà chúng hoạt động theo cơ chế liên tục tương tác trong sự bù trừ cho nhau để tạo ra trạng thái cân bằng bên trong toàn bộ hệ thống tâm thần (Xem Hình 1. Mô hình cấu trúc tâm thần (Psyche) ba phần của của Jung) Thứ nhất, vùng ý thức (consciousness) là địa hạt tương ứng với phần trên cùng, hiểu đơn giản nó là những yếu tố thuộc về phương diện nhận thức hay được ý thức của tâm thần con người, con người có thể nhận biết được nó.