Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM TRONG NGÀNH THUỶ SẢN 1. VIỆC LÀM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LÀM TRONG NGÀNH THỦY SẢN 1. Quan niệm về việc làm Chúng ta biết rằng lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu đời sống của con người, là tiêu thức để phân biệt hoạt động của con người với hoạt động theo bản năng của con vật. Trong lao động không chỉ tạo ra của cải mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người về mặt thể lực và trí lực.Mác khẳng định đó là: Lao động trước hết đó là quá trình diễn ra sự tác động giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng sự hoạt động của chính mình, con người làn trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi giữa họ và tự nhiên.
Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời cũng làm thay đổi bản tính của chính nó [29, tr. Như vậy lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào thế giới tự nhiên, nhằm biến tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của đời sống con người. Do đó, lao động là hoạt động đặc thù của con người, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự xuất hiện tồn tại và phát triển của con người. Trong quá trình lao động con người không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra những giá trị tinh thần cho xã hội.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh vai trò quyết định của lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngày nay khi khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trình độ khoa học - công nghệ phát triển cao chi phối mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhưng cũng không thể thay thế nguồn lực lao động. Bởi nguồn lực lao động là nhân tố, phát minh ra những thành tựu khoa học - công nghệ, sáng tạo ra thiết bị và sử dụng chúng vào trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác. Hơn nữa, trong các yếu tố “đầu vào” của quá trình sản xuất, lao động được coi là yếu tố cơ bản nhất. Do tiền công lao động là một trong những chi phí hình thành nên giá thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, cho nên tiết kiệm lao động để hạ giá thành sản phẩm và hàng hoá, tăng lợi nhuận là mục tiêu của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Cho đến ngày nay, khoa học và thực tiễn kinh tế đều khẳng định các nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế đó là: lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học - công nghệ. Trong đó, nguồn lực lao động là nhân tố quyết định nhất. Các nguồn lực khác có thể khai thác cạn kiệt nhưng nguồn lực con người là vô cùng, vô tận nếu các quốc gia có chính sách đào tạo và sử dụng một cách hợp lý. Lênin nói: “Lực lượng sản xuất hàng đầu nhân loại là người công nhân, là người lao động” [26, tr.
Nguồn lao động là một trong những yếu tố hình thành tiềm năng của mỗi quốc gia, nói đến nguồn lao động là nói đến một bộ phận dân số trong đó có tuổi quy định tham gia vào quá trình lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. Khi nói đến nguồn lao động không chỉ nói đến người lao động mà còn đề cập đến cả chất lượng lao động. Chất lượng nguồn lao động là khả năng lao động có hiệu quả của người lao động. Trong điều kiện đang hướng tới phát triển kinh tế tri thức có đông đảo lực lượng lao động tham gia vào phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 triển kinh tế là rất cần thiết, nhưng chưa đủ, chỉ khi lực lượng lao động bao gồm những con người có thể lực, có trí tuệ, giỏi về tay nghề, ham học hỏi, tích luỹ được kinh nghiệm mới có khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác vào tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nguồn lao động được hình thành trên cơ sở dân số. Vì vậy giữa dân số và lao động có mối quan hệ mật thiết với nhau, tốc độ tăng dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng tự nhiên của nguồn lao động, chất lượng dân số tốt thì chất lượng lao động sẽ tốt và ngược lại. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động bao gồm: tình trạng sức khoẻ của người lao động; chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách tiền lương, tiền thưởng và các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Ở nước ta còn có nhiều trình độ phát triển khác nhau, thì tình trạng thiếu việc làm, thất nhiệp cũng có nhiều nguyên nhân khác nhau.
Đối với các nước nghèo, các nước đang phát triển, dân số tăng nhanh và trình độ phát triển kinh tế thấp dẫn đến tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp ngày càng cao. Vì thế, tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp là mục tiêu quan trọng của các quốc gia trên thế giới. Như phân tích trên cho ta thấy rằng, lao động là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi con người trong mỗi quốc gia. Thực hiện quyền và nghĩa vụ đó thì người lao động có việc làm hợp pháp, nên việc làm là điều kiện để quá trình lao động được diễn ra và cũng là cơ sở để người lao động có thu nhập, đảm bảo ổn định đời sống của bản thân con người và của toàn xã hội.
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. Trong khái niệm việc làm và khái niệm lao động nó không giống nhau nhưng lại liên quan chặt chẽ với nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hội cần thiết trong đó có lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người. Về gốc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.
Việc làm là vấn đề quan trọng được quan tâm hàng đầu đối với mỗi cá nhân, gia đình và Chính phủ trong mỗi quốc gia. Cho nên quan niệm về việc làm không cố định mà nó được xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặt biệt là định hướng chính trị của mỗi quốc gia thay đổi. Vấn đề này được nhà kinh tế học nổi tiếng John Mayad Keyner (1883 - 1946) viết “Một nền kinh tế tiền tệ, như chúng ta sẽ thấy thực chất là nền kinh tế trong đó những quan điểm luôn thay đổi về tương lai, có khả năng ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm mà thôi”.
Nhà kinh tế thuộc Viện Hải quân Luân-đôn ông Shi-han-tơ cho rằng: việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của con người, kể cả quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế. Theo quan điểm này của ông Shi-han-tơ, thì tất cả các hoạt động, hành vi mang lại nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều gọi là việc làm. Như vậy đã đồng nhất việc làm hợp pháp và bất hợp pháp. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay thì không thể chấp nhận quan niệm trên, bởi các quan hệ nền kinh tế hiện nay càng phát sinh cả những mặt tích cực và tiêu cực, đó là xuất hiện nhiều nguồn thu nhập không chính đáng, nó đã làm gia tăng các tệ nạn xã hội, kiềm hãm sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế đất nước.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Ông tiến sĩ Sơn-hin và phó tiến sĩ Crin-xốp người Nga cho rằng: việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong công việc nội trợ hay trong kinh tế phụ của các nông trang viên. Với quan niệm này của hai ông cho rằng tất cả những người có công việc ổn định trong guồng máy hoạt động kinh tế - xã hội, kể cả những người làm công việc nội trợ, làm kinh tế phụ của nông trang viên, người đi học đều gọi là có việc làm. Theo quan điểm này thì có ưu điểm đó là xác định lao động của người nội trợ và người làm kinh tế phụ đều là việc làm, bởi vì nó đã góp phần tạo ra thu nhập để trực tiếp hay gián tiếp nuôi sống bản thân. Nhưng quan niệm này chưa xác định mà lại cho rằng những người đi học là có việc làm.
Bởi vì những người đi học như học sinh, sinh viên, người học nghề, các trường chuyên nghiệp đều chưa có khả năng tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân, các khoản chi tiêu của họ đều phụ thuộc vào thu nhập của người khác, của xã hội. Đa số những người đi học trong độ tuổi lao động nhưng không thuộc người lao động. Ông Giăng-mu-li là phó cố vấn kinh tế của văn phòng lao động quốc tế cho rằng: việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nổ lực sản xuất. Theo quan niệm này thì có phát triển hơn, tuy nhiên nếu chỉ có những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật thì mới được coi là việc làm thì chưa thoả đáng.