CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1.1 Việc làm và vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, là hành động tương tác giữa con người với tự nhiên. Muốn được lao động, người lao động phải có việc làm để từ đó tạo ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình. Nhưng để có được việc làm, nhất là việc làm phù hợp với năng lực, trình độ và tay nghề đào tạo của mình thì không phải người lao động nào cũng có thể tìm kiếm được một công việc phù hợp với năng lực của bản thân. Bởi vì nguồn lao động xã hội và cơ hội việc làm không phải lúc nào cũng tương thích với nhau, do đó luôn luôn tồn tại trong xã hội một bộ phận người lao động thiếu việc làm và ngược lại nhiều chỗ việc làm còn bỏ trống.
Vì vậy để tạo ra một cơ cấu việc làm hợp lý, có hiệu quả cho dân cư trong xã hội thì nhà nước cần có những chính sách giải quyết việc làm khoa học, được nghiên cứu đầy đủ về khái niệm, bản chất, nguyên tắc, các dạng việc làm và ý nghĩa của nó để vận dụng có sáng tạo trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế. Đó cũng là mục đích chính mà tôi đề cập trong mục này. Lao động, việc làm và tiêu chí đánh giá việc làm 1. Lao động và sức lao động Lao động là một trong ba yếu tố tạo nên quá trình sản xuất và là yếu tố giữ vai trò quyết định.
Dù trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ, lao động sản xuất được tiến hành bằng máy móc cơ giới và tự động hóa thì quá trình sản xuất vẫn phải được điều khiển bằng sức lao động của con người. Theo Các Mác, lao động là điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái KT, XH nào, là một sự tất yếu tự nhiên, vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người. Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua công cụ lao động, tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu của mình và cho xã hội. 6 Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, là hành động giữa con người với tự nhiên.
Trong quá trình lao động, con người với sức mạnh tiềm năng của cơ thể mình, sử dụng những công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên, khai thác những vật chất trong tự nhiên và biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích với đời sống của bản thân và xã hội. Lao động chính là việc sử dụng sức lao động của các đối tượng lao động. Sức lao động là năng lực lao động, là toàn bộ trí lực và sức lực của con người. Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhiều nhất trong quá trình lao động, nó phát động và đưa các tư liệu lao động vào hoặt động lao động để tạo ra sản phẩm.
Nếu coi sản xuất là một hệ thống gồm ba phần tạo thành (các nguồn lực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa) thì sức lao động là một trong các nguồn lực khởi đầu của một quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa. “Sức lao động là năng lực lao động, là toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động” [4;41]. Nguồn lao động là tiềm năng đặc biệt của đất nước, không những là chủ thể của sản xuất mà còn là lực lượng sản cuất hàng đầu của xã hội, là yếu tố năng động quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mọi quá trình sản xuất đều gồm ba phần cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động của con người.
Trong đó, con người bằng hoạt động của mình, sáng chế và sử dụng tư liệu lao động, tác động vào đối tượng lao động, nhằm sản xuất ra các vật phẩm tiêu dùng cho mình và cho xã hội. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động có sự khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau giữa các thời kì trong cùng một quốc gia, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế. Đa số các nước quy định tuổi tối thiểu của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn tuổi tối đa có sự khác nhau từ 60 tuổi đến 65 tuổi. Ở nước ta theo quy định của Bộ luật lao động (2012), người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Phân loại lao động Từ thực tế sử dụng lao động và để tính toán được các chỉ tiêu cơ cấu lao động theo tính chất lao động, theo ngành sản xuất, theo trình độ đào tạo… phải căn cứ vào thời gian lao động đã sử dụng để quy ra số người lao động và năng suất lao động. 7 Có nhiều cách để phân loại lao động, một trong số đó là phân loại theo phương thức sản xuất: - Lao động trực tiếp sản xuất: + Trồng trọt + Chăn nuôi + Dịch vụ sản xuất - Lao động gián tiếp sản xuất + Cán bộ chỉ đạo kỹ thuật + Cán bộ quản lý hành chính Phân loại lao động như trên cho ta thấy mối quan hệ giữa lao động trực tiếp sản xuất và gián tiếp sản xuất, mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong từng địa phương, từng doanh nghiệp. Ngoài cách phân loại trên, tùy yêu cầu nghiên cứu có thể phân chia lao động theo giới tính, độ tuổi để thấy được khả năng và huy động sức lao động của mỗi thành viên trong gia đình vào sản xuất nông nghiệp. Việc làm Ngày nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, khái niệm việc làm được diễn đạt theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo đại từ điển Tiếng Việt thì: “Việc làm là công việc, nghề nghiệp thường ngày để sinh sống” [1;1815]. Việc làm như là một phạm trù kinh tế, tồn tại ở tất cả mọi hình thức xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ kinh tế của con người về việc bảo đảm chỗ làm việc và tham gia của họ vào hoạt động kinh tế. Việc làm cũng là một phạm trù thị trường được xác định khi thuê một chỗ làm việc nhất định và chuyển người thất nghiệp thành người lao động [2;311]. Trong điều 9 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 quy định rõ “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. 8 Như vậy, mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm gọi là việc làm. Những hoạt động này được thể hiện dưới các hình thức: làm công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật để đổi công, các công việc tự làm để thu lợi cho bản thân, làm công việc nhằm tạo ra thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật) cho gia đình mình nhưng không hưởng lương hoặc tiền công. Việc làm là một hiện tượng KT – XH, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học kinh tế, khoa học xã hội, khoa học pháp lý… Đứng dưới mỗi góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau về việc làm.
Ta có thể xem xét việc làm dưới hai góc độ: KT – XH và pháp lý. - Dưới góc độ KT – XH: Việc làm có thể hiểu là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Việc làm cũng được hiểu như một phạm trù kinh tế, tồn tại ở tất cả mọi hình thái xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ kinh tế giữa con người về việc đảm bảo chỗ làm việc và tham gia của họ vào hoạt động kinh tế [2; 314]. Cũng có quan điểm cho rằng việc làm là hoạt động trong đó có sự trả công do có sự tham gia có tính chất cá nhân và trực tiếp của người lao động vào quá trình sản xuất.
Theo Guy-Hân Tơ, chuyên gia Viện phát triển hải ngoại Luân Đôn định nghĩa: ”Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì có quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, tất cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ trong quá trình kinh tế” [6; 56]. Như vậy, dưới góc độ KT – XH thì việc làm được nhận diện dựa vào: + Việc làm là một hoạt động luôn gắn với cá nhân người lao động. + Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập cho người lao động hoặc tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo ra thu nhập. + Việc làm là hoạt động có sự trả công (bằng tiền hoặc hiện vật).
+ Việc làm là hoạt động luôn gắn với TTLĐ. - Dưới góc độ pháp lý: Việc làm được hiểu là “Hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều 9 Bộ luật lao động 2012). Nếu căn cứ vào quan niệm này thì việc làm có các dấu hiệu: 9 + Việc làm là hoạt động lao động của con người tạo ra nguồn thu nhập và là hoạt động có sự trả công. Mỗi người lao động có một sức lao động riêng gắn với mỗi việc làm nhất định, gắn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thái độ ý thức, nhân thân của người lao động.
Mỗi một việc làm khác nhau gắn với mỗi TTLĐ khác nhau sẽ được trả công khác nhau. Hoạt động lao động đem lại thu nhập có thể được lượng hoá cụ thể dưới dạng như: người lao động nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động, người sử dụng lao động tự đem lại thu nhập cho người mình thông qua các hoạt đông kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ.