324 Phần III BÁNH GIÁ (Á( 0đ Hội (ỦA THỊ TRƯỜNG T0ÀN (ẢU « Cac Thị Trường Đang Nổi: Cơ Hội Cho Các Công Ty e Cac Khu Vực Thị Trường Đa Quốc Gia Và Các Nhóm Thị Trường DUONG HUU HANH 825 Chương 6 CÁC THỊ TRƯỜNG ĐANG NOI: CO HOI CHO CAC CONG TY “Le temps m’échappe et fuit; Je dis & cette nuit: Sois plus lente, et Vaurore Va dissiper la nuit. “Aimons donc, aimons donc, de Vheure fugitive Hatons - nous, jouissons ! L’ homme n’a point de port, le temps n’a point de rive; Il coule, et nous passons !” (Thời gian lẫn trốn ta; Nói uới đêm đen: hãy chậm tàn; uà bình mình sắp xóa bóng đêm. Vậy hãy yêu đi, hưởng gấp! Người không bến, thời gian không bờ; ` Thời gian trôi uà ta tàn đời!) (Lamartine, “Le Lac” trong “Méditation dixiéme”) 326 CHUONG 6: CAC TH] TRUONG BANG NỔI: CƠ HOI CHO CAC CONG TY m@ Cac Muc Tiéu Hoc Tap Của Chương Ban Học Được Gì Từ Chương 6: Các thay đổi chánh trị và kinh tế tác động đến marketing toàn cầu Sự kết nối giữa trình độ kinh tế của một quốc gia và công tác marketing Sự đóng góp của marketing vào việc tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Mức tăng trưởng của các thị trường đang phát triển và tầm quan trọng của chúng đối với nền thương mại khu vực Các yếu tố chánh trị và kinh tế tác động đến tính ổn định của các nhóm thị trường khu vực.
Các yếu tố tăng trưởng của NIC và vai trò của chúng trong việc phát triển kinh tế 8 Tóm Lược Chương Viễn Tượng Toàn Cầu: Samsung Electronics: Tạo Ra Tương Lai. Marketing va Van Dé Phat Trién Kinh Té Các giai đoạn phát triển kinh tế Các đóng góp cửa marketing vào hoạt động kinh doanh 2. Marketing Trong Quốc Gia Đang Phát Triển 3. Mức Độ Phát Triển Marketing 4.
Mức Cầu Trong Quốc Gia Kém Phát Triển 5. Các Quốc Gia Đang Phát Triển và Các Thị Trường Đang Nổi e Khu vực Châu Mỹ e Đông Âu và các quốc gia vùng Baltic e Khu vực Châu Á 6. Thay Đổi Động Thái Thị Trường và Phân Khúc Thị Trường e Các phân khúc thị trường đang nỗi e Việc phân khúc thị trường toàn cầu 7. Các Ngụ Ý Có Tính Chiến Lược Đối Với Marketing DUONG HUU HANH 327 C ác thị trường đang nổi (Emerging markets) sẽ chiếm khoảng 75% mức tăng trưởng tổng mậu dịch thế giới (the world’s total trade growth) trong thập niên tới và sau đó, theo ước tính của Bộ Thương Mại (DOC) Mỹ.
Hơn hai thập niên trước đây, phần lớn các nước thuộc thế giới đang phát triển đểu nhìn về đầu tư nước ngoài với ánh mắt thù nghịch, chán ghét và đã thực hiện các rào cản quy định nghiêm khắc đối với ngoại thương. Ngày nay, cách nhìn đã khác hẳn. Với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo kiểu Marxist, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung (centrally planned economy model) và sự thành công kinh tế một cách ngoạn mục, thần kỳ của Đài Loan, Đại Hàn, Singapore và các nên kinh tế Á Châu khác (Malaysia, Thái.), các nước đang phát triển đã hiểu rõ rằng đất nước muốn đi đến phồn thịnh, phải mở cửa nền thương mại va đầu tư trực tiếp. Do đó, nhiều quốc gia đang thực hiện với một mức độ nào đó việc kỹ nghệ hóa, đô thị hóa (urbanization), gia tăng công suất, các lợi tức cá nhân cao hơn, và tiến bộ công nghệ, mặc dù các quốc gia đó không có cùng mức độ hay tỉ lệ phát triển.
Một số ít quốc gia đã từng bằng lòng với tình hình kinh tế hiện có, bây giờ, hơn bao giờ hết, họ đang tìm kiếm mức tăng trưởng kinh tế (economic growth), cải tiến mức sống, và một cơ hội có cuộc sống tốt đẹp hơn; hầu hết dân chúng đều kỳ vọng là một phần của thế giới tiêu thụ toàn cầu (the global consumer world) Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Đại Hàn, Ba Lan, Argentina, Brazil, Mexico và Ấn Độ đều thuộc một số quốc gia đã thực hiện được các thay đổi kinh tế đẩy ấn tượng của họ và đang nổi lên như là những thị trường to lớn. Trong các quốc gia này cũng như các quốc gia khác đều có một mức cầu về hàng hóa và dịch vụ đang bành trướng và đang thay đổi chưa. Các thị trường này đều là các thực thể có tính năng động, đang phát triển phản ánh các phong cách sống của một nên văn hóa. Thực vậy, khi các nền kinh tế tăng trưởng, các thị trường của các nền kinh tế đó sẽ trở nên khác, rộng lớn 328 CHƯƠNG 6: CÁC THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI: CƠ HOI CHO CAC CONG TY hơn và có nhiều yêu cầu hơn.
Khi các nền kinh tế tăng trưởng và các thị trường phát triển dân dần thoát ra khỏi mức độ tổn tại, trì trệ, một loạt sở thích, ý muốn và đa dạng hóa sản phẩm của người tiêu thụ sẽ được nhận diện, tìm thấy. Người tiêu thụ đòi hỏi nhiều hơn, đổi hỏi các sản phẩm phải tốt hơn và/hay nhiều chủng loại hơn. Khi các quốc gia thạnh vượng và dân chúng của họ có được các ý tưởng mới và các mô hình hành vi thông qua các mạng lưới truyền thông và thói quen tiêu thụ đều được để sang một bên hay được giảm đi và các mô hình mới về hành vi tiêu thụ đang nổi lên: Loại Tivi Sony 29 inch ở Trung Hoa, các mỹ phẩm Avon ở Singapore, các tiệm bán giảm giá của Wal-Mart ở Argentina, Brazil, Mexico và Thái Lan, bánh mì Big Macs loại không có thịt bò của Mc Donald’s 6 An Dé, may giặt Whirpool và máy điều hòa nhiệt độ ở Đông Âu, các thực phẩm Sara Lee ở Indonesia và các sản phẩm Amway ở Cộng Hòa Czech, hoặc TV Sony, máy lạnh, TV, đầu DVD, lò vi-ba của Samsung, LG, Panasonic ở Việt Nam, và Trung Quốc tượng trưng cho các cơ hội tiêu thụ đang nảy sinh ở các thị trường đang nổi đối với các công ty đa quốc gia của các nước, là cơ hội “vàng” cho các công ty tiêu thụ được sản phẩm của họ. Chương này thảo luận các nền kinh tế đang nổi lên và các mô hình thị trường tiêu thụ đang biến đối đang tạo ra các cơ hội kinh doanh trên toàn thế giới.
Động thái của thị trường và tầng lớp có lợi tức trung bình đang bành trướng nhanh ở các quốc gia đang phát triển được xem như là một thị trường của một quốc gia duy nhứt (a single - country market) và như là căn bản để phân khúc thị trường toàn câu (the basis for global market segmentation), Diéu nay có nghĩa là đứng trên khía cạnh toàn cầu để phân khúc, các nhóm người có thu nhập trung bình ở Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippines. là một phân khúc thị trường mà các công ty nên tập trưng vào. DUONG HUU HANH 329 6.1- MARKETING VA VAN DE PHAT TRIEN KINH TE Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia là yếu tố môi trường quan trọng nhứt, theo đó người làm marketing nước ngoài phải diéu chỉnh công tác markting của họ cho thích hợp. Giai đoạn tăng trưởng kinh tế trong phạm vi một quốc gia tác động đến các thái độ đối với hoạt động kinh doanh nước ngoài, mức cầu về hàng hóa, các hệ thống phân phối được tìm thấy trong phạm vi một quốc gia và toàn bộ tiến trình marketing.
Trong các nền kinh tế tinh (static economies), cdc mô hình tiêu thụ trở nên cứng nhắc và công tác marketing nói chung không gì khác hơn là nổ lực cung ứng hàng hóa hay dịch vụ. Trái lại, trong một nền kinh tế động (a dynamic economy), các mô hình tiêu thụ thay đổi nhanh. Công việc marketing luôn phải đối diện với các thách thức plà hát hiện và cung cấp các mức tiêu thụ mới, và các nổ lực marketing phải đáp ứng được các nhu cầu và ước muốn của thị trường (marketing needs and wants) không ngừng biến đổi. Việc phát triển kinh tế đưa ra hai khía cạnh thách thức: ® Thứ nhứt, việc nghiên cứu các khía cạnh tổng quát về phát triển kinh tế cần thiết để có được hiểu biết về bầu khí kinh tế trong các quốc gia đang phát triển.
e Thứ hai, tình trạng phát triển kinh tế phải được nghiên cứu liên quan đến tiêm năng thị trường, bao gồm trình độ kinh tế hiện nay và tiểm năng tăng trưởng của nền kinh tế. Trình độ phát triển kinh tế hiện hành cho thấy loại và mức độ tiểm năng thị trường đang tồn tại, trong khi việc hiểu biết về tính năng động của nền kinh tế cho phép người làm marketing sửa soạn chuẩn bị các chuyển dịch kính tế và các thi trường đang nổi. Nói chung, việc phát triển kinh tế được hiểu là việc gia tăng sản xuất quốc gia xuất phát từ việc gia tăng tổng sản lượng nội địa (GDP) trung bình tính theo đâu người (percapita GDPXĐ. Ngoài việc gia tăng GDP tính theo đầu người trung 330 CHUONG 6: CAC THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI: CƠ HỘI CHO CAc CONG TY bình, hầu hết các giải thích về khái niệm này cũng bao hàm việc phân phối rộng rãi mức lợi tức gia tăng này.
Như thường được định nghĩa ngày, hôm nay, việc phát triển kinh tế có nghĩa là mức tăng trưởng kinh tế nhanh, làm tăng mức cầu tiêu thụ (consumer demand) việc cải thiện được hoàn thành “trong nhiều thập niên hơn là nhiều thế kỷ”. Các Giai Đoạn Phát Triển Kinh Tế Mô hình nổi tiếng nhứt về việc phân loại các quốc gia theo giai đoạn phát triển kinh tế do Giao Sư Walt Rostow trình bày. Ông đã xác định 5 giai đoạn phát triển kinh tế, mỗi giai đoạn là hàm số về chỉ phí lao động, khả năng kỹ thuật của các người mua sắm, phạm vi hoạt động, các lãi suất, và độ phức tạp của sản phẩm. Việc tăng trưởng là việc chuyển dịch từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, và các quốc gia nằm trong 3 giai đoạn đầu đều được xem như có nên kinh tế phát triển thấp (underdeveloped).
Tóm lại, các giai đoạn phát triển kinh tế dién tiến như sau: ® Giai đoạn 1: Xã Hội Truyền Thống ( The traditional society) Các quốc gia trong giai đoạn này đều thiếu khả năng gia tăng mức độ sản xuất. Không áp dụng một cách có hệ thống các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Tình trạng biết đọc, biết viết của đân chúng còn thấp, cũng như các loại chi phí quản lý về xã hội khác cũng thấp ® Giai đaaạn 9: Các Điều Kiện Trước Tiên Để Nên Kinh Tế Cat Canh (The preconditions for takeoff) Giai đoạn này bao gồm các xã hội dang trong tiến trình tiến sang giai đoạn cất cánh (the takeoff stage).