CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ THỬ NGHIỆM CÓ KIỂM SOÁT (SANDBOX) VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH NỔI BẬT THẾ GIỚI 1. Tổng quan về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) 1. Khái niệm Những năm gần đây, Fintech là thuật ngữ được nhắc đến rất nhiều và xuất hiện như một đại diện mới của ngành tài chính hiện đại cũng như là một biểu tượng của cuộc cách mạng kỹ thuật số. Một cách khái quát, Fintech là sự kết hợp giữa công nghệ và tài chính tạo thành một lĩnh vực mới mang tên công nghệ tài chính, đây là lĩnh vực ứng dụng công nghệ vào quá trình cung ứng giải pháp tài chính bằng cách hạn chế hoặc loại bỏ rào cản của dịch vụ tài chính truyền thống như cắt giảm chi phí, tiết kiệm thời gian.đặc biệt là thúc đẩy tài chính toàn diện một cách hiệu quả.
Một cách ngắn gọn, Fintech là lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống thông qua việc sử dụng công nghệ mới11. Fintech là sự kết hợp của các dịch vụ thuộc tài chính gồm thanh toán, ngân hàng, quản lý tài sản, thị trường vốn, bảo hiểm và cho vay với các nhánh của lĩnh vực công nghệ bao gồm dữ liệu và phân tích, IoT (Internet of Things), nền tảng di động, bảo mật, điện toán đám mây và tiền số12. Sự ra đời của Fintech mang lại nhiều lợi ích cho lĩnh vực tài chính nói riêng và toàn xã hội nói chung vì Fintech là một trong những nhân tố chủ chốt trong quá trình thúc đẩy tài chính toàn diện. Tuy nhiên, sự nổi lên của Fintech tạo nguy cơ đe 11 Jayoung James Goo, Joo-Yeun Heo (2020), The Impact of Regulatory Sandbox on the Fintech Industry, with a Discussion on the Relation between Regulatory Sandboxes and Open Innovation.
12 Albert Wang, Fintech: Overview, https://www.net/silentfishwm/Fintech-overview accessed March 6, 2021. 9 dọa sự ổn định và an toàn của ngành tài chính bởi chưa có quy định pháp luật hay khung pháp lý điều chỉnh. Vì vậy, vấn đề đầu tiên và trước nhất cần giải quyết là hạn chế rủi ro do thiếu khuôn khổ pháp lý. Từ đó, phát sinh nhu cầu định khung pháp lý cho Fintech cũng như thay đổi cách tiếp cận trong quá trình lập pháp để phù hợp với tốc độ phát triển của lĩnh vực này.
Vì thế, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát Sandbox được xem là một giải pháp tối ưu cân bằng rủi ro và lợi ích của Fintech. Theo đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hay còn gọi là Sandbox lấy ý tưởng từ hình ảnh hộp cát, nơi những sản phẩm mới, ý tưởng mới được thử nghiệm trong một phạm vi giới hạn không gian và thời gian. Sandbox đã được áp dụng trong một số lĩnh vực như dược phẩm và công nghệ thông tin nhằm đánh giá tác động của thuốc mới hoặc dòng ký hiệu (code) mới trong môi trường tách biệt nhằm ngăn rủi ro trực tiếp với môi trường thật và hệ thống chung. Tương tự, Sandbox trong pháp luật là một kỹ thuật thử nghiệm và thí điểm chính sách mới, ý tưởng hay mô hình kinh tế mới trong một thời gian và không gian xác định, dưới sự giám sát của cơ quan Nhà nước với mục đích đánh giá, thử nghiệm và sửa đổi trước khi đưa ra quy định pháp luật.13 Nhìn chung, định nghĩa Sandbox được khái quát như sau: “Sandbox là một cơ chế được thiết lập bởi cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép các công ty tư nhân thử nghiệm trực tiếp các đổi mới sáng tạo với quy mô nhỏ trong một môi trường có kiểm soát dưới sự giám sát của cơ quan quản lý có thẩm quyền.” 14 13 Luong Van Ly, Tran Thanh Tung (2020), Global Vietnam Lawyers, How to promote Sandbox Mechanism Effectively, https://gvlawyers.vn/how-to-promote-Sandbox-mechanism-effectively/ , accessed 11 February 2021.
14 Ivo Jenik and Kate Lauer, ‘Regulatory Sandboxes and Financial Inclusion’ (2017) https://www.org/research/publication/regulatory-Sandboxes-and-financial-inclusion, accessed in 11/02/2021 10 Hiện nay, đã có nhiều quốc gia áp dụng Sandbox như Anh, Singapore và một số nước Đông Nam Á khác. Theo định nghĩa của Cơ quan kiểm soát tài chính FCA (Viết tắt của Financial Conduct Authority) của Anh, quốc gia đầu tiên áp dụng mô hình Sandbox, thì “Sandbox là mô hình mở dành cho các công ty kinh doanh công nghệ có thẩm quyền, các công ty không có thẩm quyền (authorized firms and unauthorized firms) có nhu cầu đưa ý tưởng đổi mới sáng tạo ra thị trường dịch vụ tài chính Anh Quốc.”15 Theo định nghĩa của Cơ quan tiền tệ Singapore MAS (Viết tắt của Monetary Authority Singapore) thì “Sandbox của Fintech là mô hình cho phép các tổ chức tài chính và người hoạt động trong lĩnh vực Fintech thử nghiệm các sản phẩm và dịch vụ tài chính đổi mới sáng tạo trong môi trường thật nhưng có hạn chế về không gian và thời gian.”16 Trong khi đó, Dự thảo của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về Sandbox tại Khoản 2 Điều 3 như sau: “Cơ chế thử nghiệm hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng là một cơ chế pháp lý được thiết lập bởi Chính phủ trong đó cho phép các tổ chức tín dụng, công ty cung ứng giải pháp Fintech và tổ chức đổi mới sáng tạo khác được thực hiện thử nghiệm trực tiếp các sản phẩm, dịch vụ Fintech trong một môi trường được kiểm soát và giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý có liên quan.” Một cách khái quát, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát Sandbox là mô hình cho phép các thực thể thử nghiệm trực tiếp các sản phẩm hay dịch vụ đổi mới sáng tạo trong môi trường thật giới hạn về thời gian và không gian, chịu sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền. Một cách cụ thể, Sandbox cho Fintech được hiểu là một 15 FCA, Regulatory Sandbox (2015) https://www.uk/firms/innovation/regulatory-Sandbox, accessed in 10/02/2021 16 MAS, overview of Regulatory Sandbox, https://www.sg/development/Fintech/regulatory- Sandbox accessed in 11/02/2021 11 cơ chế thử nghiệm cho phép các công ty, tổ chức tiến hành thử nghiệm những sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng mới, sáng tạo thuộc lĩnh vực công nghệ tài chính trong môi trường thật. Môi trường thật đó bị hạn chế không gian, thời gian và được quản lý, giám sát bởi cơ quan có thẩm quyền.
Lịch sử hình thành 1. Lịch sử hình thành của Fintech Trên thế giới thì Fintech không phải là một khái niệm mới mà đã xuất hiện từ đầu những năm 1990 từ một dự án thúc đẩy kết hợp công nghệ bởi Citibank mang tên “Tổ chức công nghệ dịch vụ tài chính” (Financial Services Technology Consortium). Đến năm 2014, Fintech bắt đầu được nhắc đến như một ngành công nghệ phát triển vượt bậc và trở thành chủ chốt trong lĩnh vực tài chính. Đến nay, thế giới đã trải qua ba giai đoạn phát triển Fintech17, cụ thể: (1) Fintech 1.0 (1866- 1967): giai đoạn này chia làm hai giai đoạn nhỏ là trước và sau Thế chiến thứ Nhất.
Trước Thế chiến thứ Nhất, các công nghệ như điện báo, tàu sắt, kênh đào, thuyền hơi nước kết hợp với tài chính xuyên biên giới phát triển cho phép chuyển tiền, giao dịch và thanh toán khắp thế giới. Sau Thế Chiến thứ Nhất, rất nhiều thành tựu nổi bật xuất hiện làm thay đổi cơ sở hạ tầng của ngành tài chính, tiêu biểu là phát minh máy ATM; (2) Fintech 2.0 (1967-2008): giai đoạn này chứng kiến sự phát triển của dịch vụ tài chính truyền thông số. Nhiều lĩnh vực phát triển với rất nhiều phát minh mang tính ‘dấu mốc,’ cũng trong giai đoạn này cơ quan quản lý bắt đầu chú ý đến rủi ro của việc liên kết đa lĩnh vực. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng bắt đầu áp 17 Arner, D.
The Evolution of Fintech: A New Post-Crisis Paradigm? University of Hong Kong Faculty of Law Research Paper, (47) 2015. DOI: https://doi.2676553, accessed March 22,2021 12 dụng công nghệ giao dịch chứng khoán vào việc hệ thống hóa hệ thống giao dịch để tận dụng nguồn thông tin từ thị trường. Trong giai đoạn này, chỉ những công ty tài chính hay ngân hàng chính thống mới được cung cấp dịch vụ công nghệ sử dụng trong tài chính; (3) Fintech 3.0 (từ 2008 đến nay): đây là giai đoạn những tổ chức tài chính phi ngân hàng gia nhập thị trường và cũng là thời gian chịu sự ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Lúc này, sự nổi lên của các tổ chức phi ngân hàng mới trong thị trường dịch vụ tài chính là kết quả cộng hưởng từ một vài yếu tố như nhận thức công đồng, quy định pháp luật về giám sát, nhu cầu chính sách cũng như điều kiện kinh tế hiện thời.
Lịch sử hình thành của Sandbox Thuật ngữ Sandbox lần đầu tiên được nhắc đến ở Hoa Kỳ vào năm 2012 khi Cục Bảo vệ tài chính của Khách hàng (Consumer Financial Protection Bureau- CFPB) khánh thành Dự án Xúc tác (Project Catalyst) cho phép cơ quan này hợp tác với các công ty Startup, tổ chức phi lợi nhuận và ngân hàng để thử nghiệm sản phẩm mới18. Sau đó, tháng 4 năm 2016, FCA của Anh ra mắt Sandbox như một phần của Dự án đổi mới (Project Innovate), đây là dự án nhằm thúc đẩy cạnh tranh và phát triển trong dịch vụ tài chính bằng cách hỗ trợ các doanh nghiệp lớn và nhỏ trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ cải thiện trải nghiệm khách hàng.19 Với dự án đó, FCA đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể cho thấy tính khả thi và tính thực tế của việc phát triển mô hình Sandbox. Sau sự ra đời của Sandbox ở Anh, hàng loạt các quốc gia khác cũng khởi động mô hình của mình, tiêu biểu là Singapore, Hồng Kông, Thái Lan, Úc cùng hàng 18 Trần Nguyễn Minh Hải, Kinh nghiệm phát triển Fintech trong lĩnh vực ngân hàng từ cơ chế thử nghiệm Sandbox của Malaysia, https://thitruongtaichinhtiente.vn/kinh-nghiem-phat-trien-Fintech-trong-linh-vuc-ngan- hang-tu-co-che-thu-nghiem-Sandbox-cua-malaysia-25375.html, truy cập ngày 13/3/2021. 19 FCA, tlđd, (14), https://www.uk/publication/research/regulatory-Sandbox.
13 hoạt các quốc gia khác. Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Dự thảo, giao nhiệm vụ cho NHNN nghiên cứu và dự kiến trình Chính phủ Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực công nghệ tài chính vào giữa năm 2021. Mục đích của Sandbox Sự ra đời và phát triển của Fintech phát sinh nhu cầu xây dựng quy định pháp luật nhằm quản lý lĩnh vực mới này, đây là hệ quả của việc kết hợp hai lĩnh vực đặc thù mang bản chất hoàn toàn khác nhau là tài chính và công nghệ. Thứ nhất, tài chính là ngành cần sự kiểm soát chặt chẽ, đòi hỏi tính ổn định của toàn ngành, đảm bảo an toàn cho khách hàng, và cũng là lĩnh vực khá nhạy cảm.
Mặt khác, công nghệ đang trong thời kỳ phát triển với tốc độ đổi mới ‘chóng mặt’ cần khuôn khổ pháp lý linh hoạt để công nghệ thay đổi nhưng vẫn có thể nằm trong khuôn khổ pháp luật.