Luận án tiến sĩ cơ cấu vốn mục tiêu của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Nghiên cứu cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

146
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN, CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ cấu vốn và cơ cấu vốn mục tiêu

1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.3. Khoảng trống nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý thuyết về cơ cấu vốn và cơ cấu vốn mục tiêu

1.2.1. Tổng quan về cơ cấu vốn

1.2.2. Các lý thuyết về cơ cấu vốn

1.2.3. Cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp

1.3.1. Các nhân tố vi mô

1.3.2. Các nhân tố vĩ mô

1.4. Tác động của cơ cấu vốn mục tiêu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.4.1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.4.2. Vai trò của cơ cấu vốn đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khung phân tích và mô hình nghiên cứu

2.2. Nguồn dữ liệu

2.3. Phương pháp ước lượng

2.4. Nghiên cứu định tính

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CẤU VỐN VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2017

3.1. Tổng quan về ngành Xây dựng ở Việt Nam

3.1.1. Lịch sử phát triển ngành Xây dựng

3.1.2. Đặc điểm ngành Xây dựng Việt Nam

3.1.3. Chi phí Xây dựng

3.1.4. Thị trường Xây dựng

3.2. Thực trạng về cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

4.1. Mô tả thống kê và tương quan các biến trong nghiên cứu định lượng

4.2. Kết quả ước lượng và thảo luận trong nghiên cứu định lượng

4.2.1. Kết quả ước lượng và thảo luận các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn và cơ cấu vốn của các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.2.2. Kết quả ước lượng và thảo luận tác động của cơ cấu vốn mục tiêu tới hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.3. Kết quả nghiên cứu định tính

5. CHƯƠNG 5: XÂY DỰNG CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CHO CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

5.1. Triển vọng và xu hướng của ngành Xây dựng

5.2. Giải pháp xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.2.1. Điều chỉnh quy mô doanh nghiệp một cách hợp lý

5.2.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

5.2.3. Gia tăng vốn tự có và khai thác thêm các kênh huy động vốn

5.2.4. Đầu tư đổi mới tài sản cố định

5.2.5. Đổi mới phương thức làm việc

5.2.6. Mở rộng danh mục tài sản thế chấp

5.2.7. Hoàn thiện hệ thống đánh giá các doanh nghiệp

5.2.8. Tăng cường độ minh bạch của thông tin

5.2.9. Hoàn thiện các hình thức hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp

5.2.10. Phát triển, mở rộng các thị trường vốn vay

5.3. Các khuyến nghị về luật và chính sách liên quan đến ngành Xây dựng

5.3.1. Chính sách kích cầu thị trường Bất động sản

5.3.2. Luật Đấu thầu 2013 Và Nghị định 63 về công tác đấu thầu

5.3.3. Khung pháp lý mới cho hình thức PPP

5.3.4. Luật Xây Dựng (sửa đổi) 2014

5.3.5. Các quy hoạch phát triển

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ cấu vốn mục tiêu cho doanh nghiệp xây dựng niêm yết

Cơ cấu vốn mục tiêu là một yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Nó không chỉ ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn mà còn tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, việc thiết lập một cơ cấu vốn hợp lý trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Định nghĩa cơ cấu vốn và vai trò của nó

Cơ cấu vốn được hiểu là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Vai trò của cơ cấu vốn không chỉ là đảm bảo tính thanh khoản mà còn giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vốn và giảm thiểu rủi ro tài chính.

1.2. Tình hình cơ cấu vốn của doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam

Các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam thường có tỷ lệ nợ cao, điều này dẫn đến áp lực tài chính lớn. Theo số liệu, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp này có thể lên tới 3,10 lần, cho thấy sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu vốn.

II. Vấn đề và thách thức trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp xây dựng

Doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý cơ cấu vốn. Những biến động của thị trường, lãi suất và các chính sách quản lý tài chính đều ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.

2.1. Những khó khăn trong huy động vốn

Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn do tỷ lệ nợ cao và chi phí tài chính lớn. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

2.2. Tác động của chính sách quản lý tài chính

Chính sách quản lý tài chính của Nhà nước có thể tạo ra những rào cản cho doanh nghiệp trong việc điều chỉnh cơ cấu vốn. Các quy định về tỷ lệ vay nợ có thể làm tăng chi phí tài chính và giảm lợi nhuận.

III. Phương pháp xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho doanh nghiệp xây dựng

Để xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu hiệu quả, doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại. Việc điều chỉnh quy mô doanh nghiệp và tối ưu hóa chi phí vốn là những yếu tố quan trọng.

3.1. Điều chỉnh quy mô doanh nghiệp hợp lý

Doanh nghiệp cần xem xét quy mô hoạt động của mình để điều chỉnh cơ cấu vốn cho phù hợp. Việc mở rộng quy mô cần đi đôi với việc tăng cường quản lý tài chính.

3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Cải thiện quy trình sản xuất và tối ưu hóa chi phí sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng sinh lời, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu vốn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về cơ cấu vốn

Nghiên cứu về cơ cấu vốn mục tiêu cho doanh nghiệp xây dựng niêm yết đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hợp lý có thể cải thiện hiệu quả kinh doanh. Các doanh nghiệp cần thực hiện các nghiên cứu định lượng để xác định cơ cấu vốn tối ưu.

4.1. Kết quả nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố như tỷ lệ nợ, chi phí vốn và hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc tối ưu hóa cơ cấu vốn có thể giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận.

4.2. Các khuyến nghị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần tăng cường độ minh bạch trong thông tin tài chính và cải thiện hệ thống đánh giá để thu hút nhà đầu tư. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng được cơ cấu vốn mục tiêu hiệu quả hơn.

V. Kết luận và tương lai của cơ cấu vốn mục tiêu

Cơ cấu vốn mục tiêu là một yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa cơ cấu vốn và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

5.1. Tương lai của cơ cấu vốn trong ngành xây dựng

Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh, việc xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu sẽ trở thành một yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn mục tiêu và cách thức áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại trong ngành xây dựng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ cơ cấu vốn mục tiêu của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, luận án có kết cấu 5 chương, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về cơ cấu vốn và cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017 Chƣơng 4: Kết qủa nghiên cứu thực nghiệm về cơ cấu vốn và cơ cấu vốn mục tiêu của các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chƣơng 5: Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho các công ty ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN, CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ cấu vốn và cơ cấu vốn mục tiêu 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Sự cân bằng tối ưu giữa nợ và vốn đã trở thành một vấn đề trung tâm được nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp từ trước đến nay. Theo đó, các công ty lựa chọn cấu trúc vốn tùy thuộc vào thuộc tính ảnh hưởng bởi các yếu tố chi phí và lợi ích khác nhau thông qua việc tài trợ bằng nợ và vốn cổ phần. David Durand (1952) đưa ra phương pháp tiếp cận thu nhập ròng của cấu trúc vốn, trong đó cho rằng công ty có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp hoặc giảm chi phí sử dụng vốn bằng cách tài trợ bằng nợ. Hay, Ezra Soloman (1963) đưa ra quan điểm cho rằng, giá trị của doanh nghiệp tiếp tục tăng đến một mức độ nhất định của việc sử dụng nợ và sau đó giá trị doanh nghiệp có xu hướng cố định với mức sử dụng nợ cao hơn và cuối cùng là giá trị doanh nghiệp sẽ giảm.

Jensen và Meckling (1976) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên chi phí đại diện nơi công ty phải chịu hai loại chi phí đại diện - chi phí từ các cổ đông bên ngoài và chi phí liên quan đến khoản nợ hiện tại trong cấu trúc vốn. Đầu tiên, tổng chi phí đại diện sẽ giảm và sau khi đạt mức độ nhất định về vốn chủ sở hữu bên ngoài trong cấu trúc vốn, chi phí đại diện sẽ tăng lại. Tổng chi phí đại diện sẽ tối thiểu tại một mức độ nhất định của vốn chủ sở hữu bên ngoài. Các tác giả này cho rằng, một cấu trúc vốn tối ưu có thể thu được bằng cách đánh đổi chi phí đại diện của nợ và lợi ích của nợ.

Bên cạnh đó, Ross (1988) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên các thông tin bất cân xứng trong đó dẫn chứng rằng sự lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp cung cấp cho các nhà đầu tư bên ngoài các thông tin trong nội bộ công ty. Myers và Majluf (1984) đã phát triển lý thuyết cho rằng cấu trúc vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 được thiết kế để giảm thiểu sự kém hiệu quả trong quyết định đầu tư do thông tin bất cân xứng (Harris và Raviv, 1991). Trong lý thuyết thứ tự tăng vốn của Myers (1984), việc quản lý chặt chẽ các yếu tố nội tại được xem như một nguồn quỹ mới kể cả khi loại trừ những nguồn từ bên ngoài, ngoại trừ những chi phí phát sinh không thể tránh khỏi để hình thành các quỹ. Lý thuyết này giải thích các mối quan hệ nghịch giữa khả năng sinh lợi và tỷ lệ nợ, và cho rằng không có tỷ lệ mục tiêu giữa nợ và vốn.

Đầu tiên, trong tài trợ, các nhà quản lý mong muốn tài trợ thông qua các nguồn vốn tự có và sau đó tài trợ thông qua nợ và cuối cùng là từ phát hành tăng vốn (Martin, 1988). Do đó, lý thuyết này giải thích các hành vi tài chính của các nhà quản lý doanh nghiệp. Chudson (1945) quan sát thấy, có bằng chứng trực tiếp về các công ty với tỷ lệ tài sản cố định cao có xu hướng sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn. Gordon (1962) tìm thấy rằng, quy mô công ty càng lớn thì vay nợ càng nhiều; trong khi lợi tức đầu tư thì có mối quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ và cũng xác nhận mối quan hệ nghịch giữa rủi ro hoạt động và tỷ lệ nợ.

Baxter (1967) kết luận rằng, đòn bẩy sẽ phụ thuộc vào phương sai của thu nhập ròng từ hoạt động và còn kết luận rằng có mối quan hệ nghịch giữa phương sai của thu nhập ròng từ hoạt động và đòn bẩy. Bray (1967) cho rằng, các công ty rủi ro có thể có tỷ lệ nợ thấp hơn và tìm thấy mối quan hệ nghịch giữa tổng nợ và tỷ lệ tài sản cố định, giữa lợi nhuận trên đầu tư và tỷ lệ nợ, và không có mối quan hệ tuyến tính giữa quy mô và tỷ lệ nợ. Schwartz và Aronson (1967) kết luận rằng cấu trúc tài chính được đo bằng giá trị sổ sách không thay đổi đáng kể trong nội tại một ngành công nghiệp, nhưng biến thiên giữa các ngành công nghiệp. Gupta (1969) đề xuất rằng các tỷ lệ tổng nợ có mối quan hệ thuận với tăng trưởng và mối quan hệ nghịch với quy mô doanh nghiệp.

Lev (1969) kết luận rằng có một mối quan hệ đáng kể giữa các ngành công nghiệp và tỷ lệ nợ. Hat (1980) tiết lộ, đòn bẩy tài chính của công ty không liên quan đến quy mô và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và tiếp tục kết luận rằng có mối quan hệ nghịch giữa đòn bẩy tài chính với năng lực trả nợ và việc chi trả cổ tức. Ferri và Jones (1979) tìm thấy rằng các ngành công nghiệp được liên kết với việc sử dụng đòn bẩy của công ty nhưng không thông qua một cách trực tiếp hơn so LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 với những vấn đề đã được nêu trong các nghiên cứu trước đó và kết luận của việc sử dụng nợ của các công ty thì có liên quan đến quy mô của nó. Titman và Wessels (1988) cho rằng, các doanh nghiệp có các sản phẩm độc đáo hoặc duy nhất có tỷ lệ nợ tương đối thấp.

Marsh (1982) tiết lộ rằng, các công ty đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các điều kiện thị trường và lịch sử của giá chứng khoán trong việc lựa chọn sử dụng giữa nợ và vốn. Barclay và Smith (1995) chỉ ra rằng, nợ tối ưu của các công ty là chức năng làm giảm thu nhập của doanh nghiệp. Pandey (1985), Mathew (1991), Taub (1975), Brealey, Hodges và Capron (1976) và nhiều học giả khác đều nhấn mạnh những yếu tố quyết định khác nhau ảnh hưởng lên cấu trúc vốn trong các nghiên cứu thực nghiệm của họ. Ngoài ra, Dev và cộng sự (1997) trong môi trường hỗn loạn gia tăng, việc quản lý chiến lược của công ty ngày càng chiếm ưu thế hơn.

Tuy nhiên cho đến nay, mối liên hệ giữa quản lý chiến lược và quản lý tài chính của công ty phần lớn chưa được nghiên cứu nhiều. Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp phân tích khác nhau để xác nhận mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và vị thế chiến lược của công ty. Cụ thể, các nhà quản lý được nghiên cứu đã cấu trúc sự lựa chọn thông qua việc sử dụng nợ và vốn cho phù hợp với việc kiểm soát dài hạn rủi ro hệ thống theo mục tiêu chiến lược. Phần lớn các kết quả nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn của các nền kinh tế đã phát triển có nhiều điểm tương đồng về thể chế (xem Hodder và Senbet, 1990; Rajan và Zingales, 1995; Wald, 1999; Ozkan, 2001; De Miguel và Pindado, 2001; Bevan và Danbolt, 2002, 2004).

Điều này chỉ là trong những năm này thì câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng nào có ảnh hưởng quan trọng trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của khuôn khổ thể chế của các nước đã phát triển này. Các nước đang phát triển đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường ở khu vực tài chính. Hơn nữa, việc thiết lập thể chế mà trong đó các công ty đã hoạt động đã trải qua chuyển đổi cơ bản từ giữa những năm của thập niên 80 và đầu thập niên 90. Việc di chuyển theo hướng tư nhân hóa/ thị trường tự do, cùng với việc mở rộng và làm sâu sắc thêm sự đa dạng của thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn, điều này đã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cung cấp phạm vi cho các lĩnh vực của công ty để tối ưu việc xác định cấu trúc của họ.

Một vài nghiên cứu thực nghiệm đã cố gắng để làm sáng tỏ về vấn đề cấu trúc vốn trong các đặc tính thể chế riêng ở các nước đang phát triển. Booth và cộng sự (2001) là một trong số những người cung cấp các nghiên cứu thực nghiệm toàn diện đầu tiên để kiểm tra khả năng giải thích của mô hình cấu trúc vốn ở các nước đang phát triển. Họ đã chọn các nước đang vận hành theo hệ thống kinh tế định hướng thị trường, việc chọn lựa này nhằm mang đến cho nghiên cứu nhiều điểm tương đồng với các nghiên cứu ở các nước đã phát triển trước đó. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 10 nước đang phát triển để đánh giá liệu lý thuyết cấu trúc vốn có thể được ứng dụng giữa các quốc gia có cấu trúc thể chế khác nhau hay không.

Họ điều tra xem các sự kiện cách điệu, được quan sát từ các nghiên cứu của những quốc gia đã phát triển, có thể áp dụng chỉ cho những thị trường này hay có thể áp dụng một cách tổng quát hơn. Các kết quả đưa ra có một chút hoài nghi trong phân tích các tiền đề này. Họ đã cung cấp bằng chứng cho thấy các quyết định lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty ở các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi các biến tương tự như các nước đã phát triển. Tuy nhiên các quyết định này còn bị ảnh hưởng do sự khác biệt của các cấu trúc tổ chức giữa các quốc gia và phụ thuộc các yếu tố cụ thể của từng quốc gia.

Các kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng mặc dù một số hiểu biết của họ từ lý thuyết tài chính hiện đại được ứng dụng giữa các quốc gia, phần lớn vẫn được thực hiện để hiểu tác động của các đặc điểm công ty khác nhau về sự lựa chọn cấu trúc vốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ