Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Xã hội học với đề tài "Cơ cấu nhóm của trẻ em lang thang và các biện pháp giáo dục thông qua nhóm" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Thị Ngọc Phương dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn An Lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2002, chuyên ngành Xã hội học, mã số: 5.09).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế – xã hội làm nảy sinh và gia tăng nhiều vấn đề xã hội phức tạp như nghèo đói, thất học, trẻ em vi phạm pháp luật và trẻ em lang thang (TELT). Theo ước tính của UNICEF được tác giả trích dẫn, thế giới có hơn 100 triệu TELT tập trung ở các nước đang phát triển và phát triển (Châu Mỹ La-tinh khoảng 40 triệu, Châu Á từ 25 đến 30 triệu, Châu Phi khoảng 10 triệu; riêng Thủ đô Manila của Philippines có khoảng 75.000 trẻ sống tại các khu ổ chuột; Ấn Độ có số lượng cao nhất Châu Á với New Delhi, Bombay, Calcutta mỗi nơi khoảng 100.000 em, Bangalore khoảng 45.000 em; Nairobi có khoảng 25.000 em).
Tại Việt Nam, số lượng TELT có xu hướng gia tăng rõ rệt từ sau năm 1995: cả nước có khoảng 14.000 em vào năm 1997, tăng lên 19.000 em năm 1998 và đạt khoảng 23.000 em tại thời điểm nghiên cứu. Trẻ tập trung chủ yếu ở hai đô thị lớn: Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 43,8% và Hà Nội chiếm 18,8%. So với năm 1992, số lượng TELT tại Hà Nội năm 1997 tăng gấp 3 lần và năm 1999 tăng gấp 4,5 lần; tại Thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát năm 1997 ghi nhận trên 6.000 trẻ kiếm sống và năm 2000 tăng lên gần 7.000 em (nếu tính cả trẻ em lao động kiếm sống thì con số này vượt trên 10.000 em).
Nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm dịch tễ – xã hội nổi bật của TELT tại Việt Nam:
- Dịch chuyển di cư từ nông thôn ra thành thị chiếm tỷ lệ áp đảo: Khảo sát năm 1997 tại Hà Nội cho thấy 65% TELT đến từ 54 tỉnh (Thanh Hóa 30%, Hải Hưng 17,5%, Hà Tây 13,6%, Hà Nam 10,7%); tại Thành phố Hồ Chí Minh có 65% TELT từ hơn 50 tỉnh (Quảng Ngãi 10%, Thanh Hóa 4%, Đồng Tháp 3,2%, Đồng Nai 3,2%). Năm 1999, Hà Nội có khoảng 4.000 TELT từ 36 tỉnh (chiếm 85%); năm 2000, Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 5.000 TELT ngoại tỉnh (51,4%). Khảo sát 17 tỉnh năm 1995 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) xác định 67% TELT xuất thân từ nông thôn và 33% từ thành thị (miền Bắc tỷ lệ xuất thân nông thôn chiếm 83%, miền Nam chiếm 56%).
- Tỷ lệ trẻ em gái lang thang tăng nhanh: Khảo sát năm 1997 tại Hà Nội ghi nhận 34,6% trẻ nữ, Thành phố Hồ Chí Minh là 41%; năm 1999 tại Hà Nội tăng lên 46,6% và năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh là 40,6%.
- Tình trạng mắc tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật: Khoảng 1,5% TELT nghiện ma túy; trên 50% có thói quen cờ bạc; TELT phạm pháp chiếm 12–15% tổng số vị thành niên phạm tội. Năm 1999 tại Hà Nội, TELT hút thuốc lá chiếm 8,6%, đánh bạc 1,3%, dùng ma túy 0,4%, vi phạm pháp luật (cảnh cáo, phạt tiền, giam giữ) 3,3%. Năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ tương ứng là hút thuốc lá 8,8%, dùng ma túy 0,8%, đánh bạc 7%, trộm cắp 2%.
- Tình trạng thất học, mù chữ: Khảo sát 327 TELT tại Hà Nội năm 1993 của Viện Nghiên cứu Thanh niên ghi nhận 27% không biết đọc biết viết, 67% bỏ học do nghèo, 16% chưa từng đến trường. Điều tra 2.345 TELT tại 17 tỉnh của Bộ LĐTBXH năm 1995 có 20% mù chữ, 2,4% biết đọc biết viết nhưng không đi học, 61,1% trình độ cấp 1, 16,5% cấp 2; tỷ lệ trẻ chưa từng đến trường ở miền Bắc là 21%, miền Trung 27,01% (Quảng Nam – Đà Nẵng là 40,79%), miền Nam 19,4%, bình quân cả nước là 22,38%. Khảo sát 4.558 TELT năm 1999 của Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em (UBBVCSTE) Hà Nội cho thấy 4,7% mù chữ, 34% cấp 1, 58,7% cấp 2, 2,6% cấp 3. Khảo sát năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh với 2.531 trẻ kiếm sống cho thấy 52,5% không theo học bất cứ đâu.
- Nguyên nhân cốt lõi: 70% TELT khẳng định đi lang thang do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, cha mẹ thất nghiệp hoặc thu nhập thấp; 61% TELT miền Bắc xuất thân từ gia đình làm nông nghiệp. Khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất tăng từ 6,7 lần (1992–1993) lên 11,3 lần (1997–1998); chênh lệch mức sống thành thị và nông thôn từ 5 đến 7 lần (Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam – Tổng cục Thống kê, 1998).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp ở tầm vĩ mô hoặc can thiệp cá nhân đơn lẻ. Thực tế TELT luôn sinh hoạt, lao động kiếm sống và liên kết theo nhóm nhỏ để nương tựa và tự bảo vệ. Tuy nhiên, các vấn đề về cơ cấu nhóm nhỏ của TELT, quy luật vận hành nội tại của nhóm cũng như việc ứng dụng có hệ thống phương pháp công tác xã hội nhóm (CTXH nhóm) và kỹ thuật trắc lượng xã hội để giáo dục đối tượng này hầu như chưa được nghiên cứu toàn diện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản luận án xác định 3 mục đích nghiên cứu:
- Phân tích cơ cấu của một số nhóm TELT để xác định thực tế hình thành nhóm TELT ở một số thành phố lớn.
- Đánh giá thực trạng hiểu biết về nhóm của TELT, của các cán bộ xã hội (CBXH) và cán bộ quản lý cơ sở chăm sóc TELT.
- Đưa ra những khuyến nghị về việc sử dụng biện pháp giáo dục thông qua nhóm thích hợp đối với TELT nhằm giúp trẻ điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi và hướng trẻ vào khả năng tái hòa nhập cuộc sống gia đình, cộng đồng.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 5 nội dung đánh số cụ thể:
- Tìm hiểu một số lý luận, phương pháp tiếp cận và các khái niệm công cụ theo nội dung nghiên cứu của luận án.
- Nghiên cứu thực trạng cơ cấu nhóm trong một số nhóm TELT ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (tập trung vào 3 loại nhóm TELT ở nhà tình thương, nhà trọ và lớp học tình thương).
- Đánh giá thực trạng phương pháp CTXH thông qua nhóm TELT hiện nay.
- Bước đầu thực nghiệm phương pháp giáo dục thông qua nhóm đối với nhóm TELT tại một cơ sở chăm sóc TELT ở Hà Nội.
- Đề xuất một số khuyến nghị về vấn đề giáo dục TELT thông qua nhóm.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu nhóm TELT và phương pháp giáo dục thông qua nhóm nhằm giúp đỡ TELT.
- Khách thể nghiên cứu: TELT tại các mái ấm, nhà tình thương, nhà trọ, câu lạc bộ, lớp học tình thương; cùng đội ngũ CBXH và cán bộ quản lý cơ sở chăm sóc trẻ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương.
- Quy mô mẫu khảo sát:
- 670 trẻ em lang thang được trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi.
- 143 cán bộ xã hội được trưng cầu ý kiến.
- 14 cuộc phỏng vấn sâu người lớn (cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu, CBXH).
- 5 cuộc phỏng vấn sâu trẻ em lang thang.
- 12 nhóm TELT được quan sát, phân tích hoạt động.
- 1 nhóm thực nghiệm và 1 nhóm đối chứng triển khai thực nghiệm giáo dục.
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt lý thuyết, tập trung vào lý thuyết nhóm nhỏ, tương tác nhóm, các giai đoạn phát triển nhóm và phương pháp CTXH nhóm. Về mặt khảo sát thực địa, tập trung vào các mô hình tương đối ổn định (nhà tình thương/mái ấm, câu lạc bộ, lớp học tình thương, nhà trọ) tại Hà Nội (chủ yếu) và Thành phố Hồ Chí Minh. Phần thực nghiệm được tiến hành trong phạm vi hẹp tại một nhà tình thương thuộc Quận Đống Đa, Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn được điểm lại
Luận án tiến hành tổng hợp lịch sử nghiên cứu nhóm nhỏ, công tác xã hội nhóm và trẻ em đường phố theo các tuyến công trình trong và ngoài nước:
| Hướng nghiên cứu | Tác giả, tổ chức và công trình tiêu biểu được trích dẫn trong văn bản | Nội dung trọng tâm được kế thừa |
|---|---|---|
| Lý thuyết nhóm nhỏ và tương tác vi mô | Auguste Comte (1798–1857); Gordon Allport (1897–1967); Sigmund Freud (1913, Tâm lý học tập thể và phân tích cái tôi); W. Bion, E. Jaques, M. Pagès; J.L. Moreno (Sociométrie, sơ đồ xã hội Sociogramme, khái niệm nguyên tử xã hội); Kurt Lewin (Group Dynamics - Năng động nhóm); Elton Mayo; G. Lapassade; Emile Durkheim; Max Weber; F.W. Taylor; V. Dobrianov (1984); Michael S. Olmsted (The Small Group); Robert E. Park, Ernest W. Burgess, Florian Znaniecki, Leopold von Wiese, Howard Becker, George A. Lundberg, Stuart C. Dodd, Talcott Parsons; Marvin Shaw; David G. Myers; Joseph H. Fichter (1974); Jean Robertson (1989); Margaret E. Hartford (1971); Earle E. Eubank (1932). Các tác giả Việt Nam: Trần Thị Minh Đức (1994), Nguyễn Thị Oanh (1995), Nguyễn Hữu Lam (1996), Trần Hiệp (1996), Hồ Ngọc Hải và Vũ Dũng (1996), Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Ngọc Uyên (1998). | Phân tích cơ chế tác động tâm lý xã hội (bắt chước, ám thị, tuân thủ chuẩn mực), phân loại nhóm chính thức – không chính thức, cấu trúc tương tác, vai trò của thủ lĩnh và năng động nhóm. |
| Lịch sử và phương pháp CTXH nhóm | Tại Mỹ: Phong trào định cư Toynbee Hall (London, 1884), Neighborhood Guild (1886), Hull House của Jane Addams (Chicago, 1889); YMCA (1851), YWCA (1866); đào tạo CTXH nhóm tại Western Reserve University (1920); Hội nghị Quốc gia về CTXH (1935); Hiệp hội Quốc gia nghiên cứu CTXH nhóm (1936, đổi tên năm 1939); Hiệp hội Cán bộ CTXH nhóm (1946); Hiệp hội Quốc gia Cán bộ Xã hội (1955). Các tác phẩm của Helen Northen (1988), Rex A. Skidmore & Milton G. Thackeray & O. William Farley (1994), Ronald W. Toseland (1995), Louise C. Johnson (1995), Grace Coyle, Gisela Konopka, Gertrude Wilson & Gladys Ryland, Janet P. Murray & Clyde E. Murray (1971). Tại Philippines: Thelma Lee-Mendoza (1999), các phong trào YMCA (1911), YWCA (1926), Hội đồng điều phối phúc lợi thanh niên (1958–1959), các chương trình của Bộ Phúc lợi Xã hội thập niên 60–70. Tại Việt Nam: Các cô nhi viện dòng Thánh Phao-lô (Việt Hoa tại Chợ Lớn 1869, Biên Hòa 1876), dòng Mến Thánh Giá, Hội Dục Anh (1931); trường Cán sự xã hội Caritas (1947); Trung tâm Nghiên huấn phát triển xã hội (1973); đào tạo CTXH tại Đại học Mở Bán công TP.HCM (Khoa Phụ nữ học, 1992), Đại học KHXH&NV Hà Nội và TP.HCM, Học viện Thanh thiếu niên, Trường Cán bộ Phụ nữ TW; các ấn phẩm của Nguyễn Thị Oanh (1999). |
Hệ thống hóa các mô hình can thiệp nhóm (mục tiêu xã hội, trị liệu, tương tác xã hội); tiến trình làm việc với nhóm; kỹ năng điều hành và tham vấn nhóm. |
| Nghiên cứu về Trẻ em lang thang (TELT) | Quốc tế: Fabio Dallape (1988, Kenya); S. Guim & Z. Osios (1992, Philippines); Swart J. Malunde (1990, Nam Phi); Judith Ennew (1996); tài liệu của Childhope Asia (1989, 1995), Redd Barna (1989, 1990); danh bạ Directory of Organizations working with Street Children in Asia (1994: 102/217 tổ chức tại 18 nước dùng phương pháp nhóm, tiêu biểu là Philippines 45/62, Indonesia 17/28, Ấn Độ 10/41, Bangladesh 8/18, Thái Lan 6/15). Việt Nam: Luận văn tốt nghiệp của Trần Đình Chi (1971, Sài Gòn); Timothy W. Bond (1992); điều tra của UBBVCSTE và Viện Xã hội học (1993); điều tra của Bộ LĐTBXH (1995); khảo sát của Nguyễn Văn Buồm và Jonathan Caseley (1995); Viện Nghiên cứu Thanh niên (1996); Ngô Kim Cúc và Mikel Flamm (1997); UBBVCSTE Hà Nội và TP.HCM (1997, 1999); các hội nghị quốc gia của Bộ Công an, Bộ LĐTBXH, UBBVCSTE (1998, 1999, 2000). |
Nhận diện thực trạng di cư, điều kiện sống, lao động kiếm sống, học vấn, tệ nạn xã hội và khung chính sách (Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em 1989, Chỉ thị 06/TTg năm 1998, Quyết định 134/1999/QĐ-TTg). |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu về TELT tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận ở góc độ thống kê mô tả nhân khẩu, phân tích nguyên nhân gia đình – xã hội, hoặc tổng kết hoạt động cứu trợ hành chính. Luận án đặt trọng tâm giải quyết điểm nghẽn: phân tích cấu trúc xã hội nội tại của nhóm TELT (thủ lĩnh, vai trò, chuẩn mực, gắn kết cảm xúc, mạng lưới tương tác) thông qua trắc lượng xã hội và thực nghiệm quy trình giáo dục nhóm nhằm hỗ trợ trẻ thay đổi nhận thức, hành vi và tái hòa nhập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Nghiên cứu vận dụng phối hợp các khung lý thuyết xã hội học và tâm lý học xã hội:
- Lý thuyết cơ cấu xã hội: Kế thừa quan điểm của Durkheim, Joseph H. Fichter, Jean Robertson và V. Dobrianov. Luận án tiếp cận cơ cấu xã hội như mô hình của các mối quan hệ ổn định giữa các thành phần cơ bản (vị thế, vai trò, nhóm và thiết chế). Trong đó, nhóm nhỏ được xem là đơn vị phân tích cơ sở phản ánh cấu trúc xã hội vi mô.
- Lý thuyết nhóm nhỏ và Năng động nhóm (Group Dynamics): Vận dụng lý thuyết trường của Kurt Lewin và lý thuyết trắc lượng xã hội của J.L. Moreno để phân tích tương tác trực tiếp, mức độ dung cảm, xung đột, sự gắn kết và cấu trúc không chính thức giữa các thành viên.
- Các lý thuyết bổ trợ: Lý thuyết tương tác biểu trưng, lý thuyết cơ cấu chức năng, lý thuyết xung đột xã hội và lý thuyết vai trò xã hội.
- Khái niệm công cụ:
- Nhóm nhỏ: Tập hợp từ hai người trở lên, có tương tác trực tiếp, cùng chia sẻ mục tiêu, tuân thủ các chuẩn mực chung và hình thành hệ thống vị thế, vai trò xác định.
- Trẻ em lang thang: Trẻ em dưới 16 tuổi (theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam) rời bỏ gia đình, sống lang thang trên đường phố, tự kiếm sống, không có sự giám sát, bảo vệ và chăm sóc đầy đủ của gia đình.
- Công tác xã hội nhóm: Phương thức can thiệp có mục đích của CBXH nhằm trợ giúp các thành viên thông qua trải nghiệm tương tác nhóm để phát triển năng lực cá nhân, điều chỉnh hành vi và giải quyết vấn đề xã hội.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp luận Triết học Mác – Lênin (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển; quan điểm toàn diện, lịch sử – cụ thể) với các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Tổng hợp hệ thống văn bản pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết Trung ương V; Chỉ thị 197-CT/TW ngày 19/3/1960 của Ban Bí thư; Nghị định 374/HĐBT ngày 14/11/1991; Chỉ thị 06/TTg ngày 23/11/1998; Quyết định 134/1999/QĐ-TTg); các kỷ yếu hội thảo khoa học và báo cáo số liệu của Bộ LĐTBXH, UBBVCSTE.
- Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi: Điều tra chọn mẫu trên 670 trẻ em lang thang và 143 cán bộ xã hội tại các cơ sở mái ấm, nhà mở, nhà tình thương, câu lạc bộ, lớp học tình thương và nhà trọ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và tọa đàm: Tiến hành 14 cuộc phỏng vấn sâu đối với người lớn (cán bộ quản lý cơ sở bảo trợ, chuyên gia nghiên cứu, cán bộ xã hội trực tiếp) và 5 cuộc phỏng vấn sâu đối với trẻ em lang thang; tổ chức các buổi tọa đàm chuyên gia.
- Phương pháp Trắc lượng xã hội (Sociométrie / Metric xã hội): Lập bảng câu hỏi trắc nghiệm đo lường các mối quan hệ lựa chọn, từ chối, thiện cảm, ác cảm trong nhóm TELT; xây dựng ma trận trắc lượng và sơ đồ xã hội (Sociogramme) nhằm bộc lộ cơ cấu không chính thức, nhận diện thủ lĩnh thực tế và các cá nhân bị cô lập.
- Phương pháp quan sát: Quan sát có chủ đích hoạt động sinh hoạt, lao động, kiếm sống và giao tiếp thường nhật của 12 nhóm TELT.
- Phương pháp thực nghiệm xã hội học: Thiết kế và triển khai quy trình giáo dục thông qua nhóm nhỏ trong phạm vi hẹp tại một nhà tình thương chăm sóc TELT thuộc Quận Đống Đa, Hà Nội, gồm 1 nhóm thực nghiệm và 1 nhóm đối chứng để đo lường mức độ biến chuyển nhận thức, thái độ và hành vi của trẻ.
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu, làm sạch và phân tích thống kê toán học bằng phần mềm SPSS 9.0 for Windows (chạy phân tích tần số, tương quan chéo giữa các biến số nhân khẩu học, loại hình nhóm và nhận thức xã hội).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương này dành 61 trang (từ trang 17 đến 77) để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và bối cảnh thực tiễn của đề tài:
- Lịch sử nghiên cứu nhóm nhỏ và CTXH nhóm: Trình bày chi tiết các mốc hình thành bộ môn tâm lý học xã hội và xã hội học vi mô ở phương Tây (Comte, Allport, Freud, Moreno, Lewin, Mayo); quá trình phát triển các tổ chức định cư và hội đoàn (YMCA, YWCA, Toynbee Hall, Hull House) tại Mỹ và Philippines; phân tích lịch sử ngành CTXH tại Việt Nam qua các giai đoạn trước 1975 (cô nhi viện tôn giáo, trường Cán sự Xã hội Caritas 1947, Trung tâm Nghiên huấn 1973) và sau 1975 (các khóa đào tạo tại ĐH Mở Bán công TP.HCM, ĐH Quốc gia Hà Nội).
- Tổng quan thực tiễn TELT: Phân tích các số liệu khảo sát giai đoạn 1992–2000 về tốc độ gia tăng số lượng trẻ, biến động luồng di cư nông thôn – đô thị, cơ cấu giới tính (tỷ lệ trẻ nữ tăng đến hơn 40%), thực trạng thất học (hơn 20% mù chữ, trên 50% không đến trường) và nguy cơ tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, vi phạm pháp luật).
- Xây dựng hệ thống khái niệm: Luận giải khái niệm cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam thời kỳ Đổi mới; định nghĩa nhóm nhỏ theo tâm lý học và xã hội học; xác lập định nghĩa công tác xã hội và trẻ em lang thang.
Chương 2: Cơ cấu nhóm nhỏ và công tác xã hội nhóm
Chương 2 trình bày khung phân tích cấu trúc nhóm và mô hình can thiệp nhóm đối với TELT (từ trang 78 đến 119):
- Cơ cấu của nhóm nhỏ: Phân tích chi tiết các thành tố hợp thành nhóm nhỏ bao gồm: quy mô nhóm, thành phần nhân khẩu học, hệ thống chuẩn mực và giá trị của nhóm, cơ chế phân công vai trò và địa vị xã hội, các loại hình thủ lĩnh (thủ lĩnh chính thức và thủ lĩnh tự nhiên), mạng lưới truyền thông và các kiểu tương tác liên cá nhân (hợp tác, cạnh tranh, xung đột).
- Nội dung cơ bản của CTXH với nhóm: Xác lập mục tiêu, nguyên tắc hoạt động nhóm; phân biệt 3 mô hình can thiệp (mô hình mục tiêu xã hội, mô hình trị liệu/phục hồi chức năng, mô hình tương tác/tương hỗ); mô tả tiến trình 5 giai đoạn phát triển nhóm (tiền thành lập/chuẩn bị, định hướng/khởi đầu, xung đột/chuyển tiếp, hoạt động hiệu quả/thực hiện nhiệm vụ, kết thúc/đánh giá).
- Vận dụng lý thuyết vào khảo sát nhóm TELT: Xác định các tiêu chí hình thành nhóm TELT trong thực tế như đồng hương/vùng miền, nghề nghiệp kiếm sống (đánh giày, bán báo, bán hàng rong, bới rác, bốc vác), không gian cư trú (nhà trọ, gầm cầu, công viên, mái ấm) và sở thích cá nhân.
- Thiết kế tiến trình nghiên cứu: Trình bày chi tiết bảng chỉ báo nghiên cứu, thiết kế bảng hỏi cho trẻ và CBXH, quy trình trắc lượng xã hội và kế hoạch thực nghiệm can thiệp.
Chương 3: Thực trạng về cơ cấu nhóm và công tác xã hội nhóm đối với trẻ em lang thang qua kết quả nghiên cứu
Chương 3 là chương thực nghiệm và phân tích dữ liệu thực địa (từ trang 120 đến 186):
- Thực trạng qua ý kiến TELT (3.1): Phân tích nhận thức của 670 trẻ về sự cần thiết của nhóm. Kết quả cho thấy đại đa số trẻ tự nguyện gia nhập nhóm do nhu cầu mưu sinh và bảo vệ an toàn; nhóm giúp trẻ tìm chỗ trọ, chia sẻ kinh nghiệm kiếm tiền và chống lại sự ức hiếp. Cơ cấu nhóm của trẻ thể hiện sự gắn kết theo xuất thân địa phương và tính chất công việc.
- Thực trạng qua ý kiến Cán bộ xã hội (3.2): Khảo sát 143 CBXH cho thấy phần lớn cán bộ nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý, tiếp cận trẻ qua nhóm, nhưng còn thiếu kỹ năng chuyên sâu về phương pháp CTXH nhóm; hoạt động can thiệp tại các cơ sở chủ yếu mang tính hành chính, bề nổi hoặc dựa vào kinh nghiệm cá nhân.
- Phân tích phỏng vấn sâu và tọa đàm (3.3): Làm rõ tâm lý sợ hãi, mặc cảm, nhu cầu được tôn trọng và gắn bó tình cảm của trẻ; phát hiện vai trò chi phối của thủ lĩnh nhóm trong việc duy trì luật lệ bất thành văn giữa các trẻ sống tại nhà trọ và đường phố.
- Cơ cấu nhóm TELT qua kết quả nghiên cứu và Metric xã hội (3.4 & 3.5):
- Phân tích 12 nhóm TELT tại 3 loại hình môi trường (nhà tình thương, nhà trọ, lớp học tình thương) bộc lộ sự phân hóa vị thế rõ rệt.
- Ứng dụng trắc lượng xã hội vẽ sơ đồ xã hội (Sociogramme), phát hiện các tiểu nhóm liên kết chặt chẽ theo quê quán, các nhân vật trung tâm thu hút thiện cảm (thủ lĩnh không chính thức) và những cá nhân bị cô lập cần can thiệp tâm lý.
- Kết quả nghiên cứu thực nghiệm (3.6): Triển khai tiến trình giáo dục thông qua nhóm nhỏ tại nhà tình thương Quận Đống Đa, Hà Nội. So sánh trước và sau thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng cho thấy: nhóm thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về kỹ năng giao tiếp, giảm thiểu hành vi gây hấn, tăng cường tinh thần hợp tác, điều chỉnh nhận thức về giá trị bản thân và gia tăng nguyện vọng học nghề, hồi gia tái hòa nhập cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và phương pháp luận
- Hệ thống hóa lý luận: Luận án tổng hợp và hệ thống hóa các khung lý thuyết về cơ cấu xã hội, nhóm nhỏ, năng động nhóm và công tác xã hội nhóm, vận dụng thành công vào một nhóm xã hội đặc thù và yếu thế tại Việt Nam là trẻ em lang thang.
- Đổi mới phương pháp nghiên cứu: Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng phương pháp Trắc lượng xã hội (Sociométrie) vào nghiên cứu cơ cấu nhóm nhỏ của trẻ em lang thang, giúp định lượng hóa và trực quan hóa các mối quan hệ tình cảm, vị thế, vai trò và cấu trúc phi chính thức trong nhóm trẻ.
- Quy trình hóa thực nghiệm: Xây dựng và kiểm chứng thực nghiệm quy trình giáo dục thông qua nhóm nhỏ với các giai đoạn chuẩn bị, khởi động, giải quyết xung đột, tương tác nhóm và lượng giá can thiệp, chứng minh tính khả thi của phương pháp CTXH nhóm trong điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Đóng góp về thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Cung cấp dữ liệu thực chứng: Phác thảo bức tranh toàn diện về cơ cấu nhóm TELT tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, giúp các cơ quan quản lý nhà nước hiểu đúng quy luật liên kết tự nhiên của trẻ trên đường phố và trong các cơ sở bảo trợ.
- Đề xuất các nhóm giải pháp chính sách:
- Nâng cao năng lực chuyên môn và chuẩn hóa đào tạo kỹ năng CTXH nhóm cho đội ngũ cán bộ xã hội, giáo dục viên đường phố và nhân viên quản lý mái ấm/nhà mở.
- Chuyển đổi phương thức tiếp cận giáo dục TELT từ biện pháp hành chính tập trung, áp đặt sang can thiệp thông qua nhóm tự nguyện, sử dụng ảnh hưởng tích cực của thủ lĩnh nhóm và tương tác bạn đồng lứa.
- Hoàn thiện mạng lưới phối hợp liên ngành giữa ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Công an, Giáo dục, Đoàn Thanh niên và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, can thiệp và hỗ trợ TELT hòa nhập gia đình, cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn lực và tính chất biến động phức tạp của đối tượng nghiên cứu, khảo sát thực địa của luận án chủ yếu tập trung tại địa bàn Hà Nội và một phần Thành phố Hồ Chí Minh; mẫu khảo sát nhóm tập trung chủ yếu ở các mô hình tương đối ổn định (nhà tình thương, nhà trọ, lớp học tình thương), chưa bao quát hết toàn bộ các nhóm trẻ di động cao ngoài đường phố tự do. Quy mô nghiên cứu thực nghiệm mới dừng lại ở phạm vi hẹp tại một cơ sở nhà tình thương thuộc Quận Đống Đa, Hà Nội.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng kiểm chứng quy trình can thiệp CTXH nhóm trên các nhóm TELT tự do ngoài đường phố tại nhiều tỉnh/thành trọng điểm khác; nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình can thiệp nhóm đặc thù dành riêng cho nhóm trẻ em gái lang thang và nhóm trẻ có nguy cơ cao vi phạm pháp luật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Tâm lý học xã hội và Giáo dục học: Tham khảo hệ thống lý luận nhóm nhỏ, quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu thực địa và phương pháp ứng dụng kỹ thuật Trắc lượng xã hội (Sociométrie) trong xử lý dữ liệu xã hội học vi mô.
- Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ LĐTBXH, UBBVCSTE, Sở LĐTBXH các tỉnh/thành): Sử dụng các số liệu thực chứng và phân tích nguyên nhân để xây dựng chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Cán bộ xã hội, giáo dục viên đường phố, nhân viên tại các mái ấm, nhà tình thương, tổ chức phi chính phủ: Trực tiếp vận dụng quy trình 5 bước làm việc với nhóm và kỹ năng điều hành nhóm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, tham vấn và hỗ trợ trẻ em lang thang tái hòa nhập xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Tình hình di cư và tỷ lệ trẻ em gái lang thang tại Hà Nội và TP.HCM biến động như thế nào trong giai đoạn 1997–2000?
Văn bản luận án nêu rõ luồng di cư từ nông thôn về hai thành phố lớn chiếm tỷ lệ rất cao: năm 1997 có 65% TELT tại Hà Nội đến từ 54 tỉnh (Thanh Hóa 30%, Hải Hưng 17,5%) và 65% TELT tại TP.HCM đến từ trên 50 tỉnh (Quảng Ngãi 10%, Thanh Hóa 4%). Đến năm 1999, Hà Nội có 85% TELT ngoại tỉnh; năm 2000, TP.HCM có 51,4% TELT ngoại tỉnh. Về giới tính, tỷ lệ trẻ em gái lang thang tăng nhanh: tại Hà Nội tăng từ 34,6% (năm 1997) lên 46,6% (năm 1999); tại TP.HCM duy trì ở mức cao từ 41% (năm 1997) đến 40,6% (năm 2000).
2. Trình độ học vấn của trẻ em lang thang được phản ánh qua các cuộc điều tra quy mô lớn trong văn bản như thế nào?
Theo điều tra năm 1995 của Bộ LĐTBXH trên 2.345 TELT tại 17 tỉnh: 20% mù chữ, 2,4% chỉ biết đọc biết viết không qua trường lớp, 61,1% học cấp 1, 16,5% học cấp 2; tỷ lệ trẻ chưa từng đến trường ở miền Bắc là 21%, miền Trung là 27,01% (Quảng Nam – Đà Nẵng là 40,79%), miền Nam là 19,4%, cả nước là 22,38%. Khảo sát năm 2000 tại TP.HCM trên 2.531 trẻ kiếm sống cho thấy có tới 52,5% trẻ không theo học ở bất kỳ lớp học nào.
3. Quy mô mẫu và các phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể của luận án gồm những gì?
Luận án thực hiện khảo sát định lượng trên 670 trẻ em lang thang và 143 cán bộ xã hội; phỏng vấn sâu 14 người lớn và 5 trẻ em; quan sát phân tích 12 nhóm TELT; triển khai thực nghiệm trên 1 nhóm thực nghiệm và 1 nhóm đối chứng tại cơ sở bảo trợ Quận Đống Đa, Hà Nội; dữ liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS 9.0 for Windows.
4. Phương pháp Trắc lượng xã hội (Sociométrie) đóng vai trò gì trong việc nhận diện cơ cấu nhóm TELT?
Phương pháp Trắc lượng xã hội do J.L. Moreno khởi xướng được tác giả sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam trên đối tượng TELT để đo lường mức độ thiện cảm, ác cảm, lựa chọn và từ chối giữa các cá nhân trong 12 nhóm trẻ. Thông qua ma trận trắc lượng và sơ đồ xã hội (Sociogramme), nghiên cứu đã xác định chính xác cấu trúc không chính thức, nhận diện thủ lĩnh tự nhiên có ảnh hưởng thực tế và phát hiện các trẻ bị cô lập để can thiệp hỗ trợ tâm lý.
5. Nghiên cứu thực nghiệm giáo dục thông qua nhóm được tiến hành tại đâu và đạt kết quả gì?
Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại một cơ sở nhà tình thương chăm sóc TELT thuộc Quận Đống Đa, Hà Nội với 1 nhóm thực nghiệm và 1 nhóm đối chứng. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm sau can thiệp có sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, giảm xung đột hành vi, cải thiện kỹ năng giao tiếp và tăng cường tinh thần hợp tác, mong muốn học nghề để tái hòa nhập cộng đồng so với nhóm đối chứng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương là công trình nghiên cứu xã hội học chuyên sâu về cơ cấu nhóm nhỏ của trẻ em lang thang tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp lý thuyết nhóm nhỏ, phương pháp trắc lượng xã hội và kỹ thuật xử lý dữ liệu SPSS 9.0 trên mẫu 670 trẻ và 143 cán bộ xã hội, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc liên kết nội tại của các nhóm trẻ đường phố. Kết quả nghiên cứu và quy trình thực nghiệm giáo dục nhóm tại Hà Nội đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc đổi mới phương pháp công tác xã hội, hỗ trợ hiệu quả công tác giáo dục và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em lang thang.