Chương 1 LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN NHƯỢNG DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở THƯƠNG MẠI; LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về chuyển nhượng dự án xây dựng nhà ở thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của dự án nhà ở thương mại Do nhu cầu phát triển của nền kinh tế và xu thế hội nhập cũng như yêu cầu đáp ứng nhu cầu về nhà ở ngày càng nhiều của người dân do đó nhiều doanh nghiệp đã tham gia vào thị trường phát triển nhà ở thông qua việc tự đầu tư vốn vào lĩnh vực bất động sản để phát triển nhà ở thương mại nhằm mục đích để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua khi thỏa mãn những điều kiện phù hợp với cơ chế phát triển của thị trường. Nhìn chung, bản chất của mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh hay cung ứng bất kỳ dịch vụ nào ra thị trường cũng chỉ nhằm mục đích thu được lợi nhuận một cách tốt nhất.
Do đó mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của dịch vụ này chịu sự tác động của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài mà chúng ta vẫn hay còn gọi là môi trường đầu tư. Mặt khác các hoạt động đầu tư nhằm gia tăng giá trị lợi ích hay còn gọi là các hoạt động cho tương lai nên nó chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, thiếu ổn định từ chính nội tại của hoạt động đầu tư. Đó chính là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến dự án và quyết định sự thất bại hay thành công đồng thời nó cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính lựa chọn những hình thức đầu tư gián tiếp như kinh doanh tiền tệ dù cho họ biết rằng lãi suất thu được thấp hơn rất nhiều tuy nhiên lại chứa đựng ít sự mạo hiểm nhất dù họ biết rằng cùng số vốn ấy nhưng nếu lựa chọn một hình thức đầu tư trực tiếp khác thì giá trị có thể cao hơn rất nhiều. Sở dĩ tác giả phân tích nội hàm của hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản để làm rõ nội hàm của một số khái niệm cũng như một số các đặc điểm đặc trưng cơ bản của dự án nhà ở thương mại.
Trước khi đi đến định nghĩa của dự án nhà ở thương mại, trước hết 11 cần làm rõ khái niệm của nhà ở thương mại theo pháp luật về nhà ở và pháp luật kinh doanh bất động sản hiện hành. Căn cứ theo quy định của Luật nhà ở 2014, khái niệm nhà ở thương mại được diễn nghĩa như sau “Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường”. Từ khái niệm, chúng ta có thể hiểu rằng nhà ở thương mại được hình thành từ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, cụ thể hơn là việc doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư, xây dựng để bán hoặc cho thuê, cho thuê mua phù hợp với cơ chế thị trường và xét dưới gốc độ khoa học pháp lý thì khái niệm về nhà ở thương mại và khái niệm nhà ở gần như khác nhau về mặt ngữ nghĩa vì một bên phục vụ cho lợi ích kinh tế còn một bên phục vụ cho mục đích để ở. Xét về nội hàm của khái niệm nhà ở thương mại có thể thấy được rằng nhà ở thương mại có nghĩa là nhà ở được nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư vốn để kinh doanh nhằm phục vụ cho lợi ích kinh tế phù hợp với cơ chế cung – cầu.
Từ khái niệm nhà ở thương mại được minh thị trong quy định của Luật nhà ở, tác giả muốn làm rõ hơn về khái niệm dự án nhà ở thương mại. Theo Từ điển Oxford của Anh, dự án được định nghĩa là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động. Ngân hàng thế giới – một định chế tài chính đa quốc gia nổi tiếng trong lĩnh vực tài trợ dự án ở khắp nơi trên thế giới – đưa ra khái niệm: “Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định”.1 Theo Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án của Viện nghiên cứu quản lý dự án quốc tế thì: “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ độc nhất”.2 Như vậy, Dự 1 TS. Nguyễn Kim Anh – ThS.
Nguyễn Đức Trung (Đồng chủ biên), Thẩm định dự án đầu tư: Quy trình thực hiện và tình huống thực hành (Sách chuyên khảo), NXB. Dân Trí, năm 2012, tr. Đỗ Đình Đức – TS. Bùi Mạnh Hùng (Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội), Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, NXB.
Xây dựng, năm 2012, tr. 12 án là đối tượng của quản lý và là tập hợp của những hoạt động khác nhau có liên quan với nhau theo một logic, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian cụ thể. Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án không có tính chất đầu tư. Với dự án về dự án nhà ở thương mại là một trong loại hình dự án mang tính chất đầu tư thì pháp luật hiện hành không được đề cập một cách chi tiết mà có thể dựa vào giải nghĩa tại khoản 8 Điều 3 Luật nhà ở “Dự án đầu tư xây dựng nhà ở là tổng hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới nhà ở, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ nhu cầu ở hoặc để cải tạo, sửa chữa nhà ở trên một địa điểm nhất định”3 để xây dựng khung khái niệm về dự án nhà ở thương mại.
Khái niệm dự án đầu tư xây dựng nhà ở liệu có được xem đồng nhất với khái niệm nhà ở thương mại hay không, để làm rõ điều đó cần phải tìm hiểu, xem xét dưới nhiều gốc độ quy định của nhiều văn bản pháp luật liên quan như sau: Theo Luật đầu tư năm 2014 “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất đầu tư vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian xác định.” Khái niệm dự án đầu tư theo Ngân hàng Thế giới thì “tổng thể các chính sách, hoạt động, chi phí có liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định” Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư là một tập hợp toàn bộ hồ sơ tài liệu liên quan nhằm trình bày chi tiết và có hệ thống toàn bộ các hoạt động đầu tư đồng thời liệt kê chi tiết toàn chi phí để triển khai dự án theo một kế hoạch mà nhà đầu tư mong muốn đạt được những kết quả nhất định cho mục tiêu đầu tư mà mình hướng tới trong tương lai. 3 Khoản 8 Điều 3 Luật Nhà ở 2014. 13 Xét về gốc độ quản lý thì dự án đầu tư là tập hợp một công cụ quản lý tốt nhất để đảm bảo quản lý được việc sử dụng vốn, nguyên liệu, vật tư, nhân công để làm ra các sản phẩm phục vụ cho kinh tế, xã hội trong một thời gian dài. Xét về gốc độ xây dựng kế hoạch có thể xem dự án đầu tư là một công cụ thể hiện chi tiết kế hoạch cho công cuộc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, xét về góc độ này thì dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt trong hoạt động kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung. Mặt khác, khi có thể đưa ra một khái niệm khái quát ngoài những yếu tố được đề cập nói trên cần phải xem xét về mặt nội dung để hiểu được nội hàm của tên gọi. Như vậy, có thể hiểu rằng dự án đầu tư là tổng thể toàn bộ các hoạt động đầu tư bao gồm các chi phí cần thiết phục vụ cho hoạt động đầu tư và được bố trí theo một thời gian biểu phù hợp và chặt chẽ để cải tạo hoặc mở rộng những cơ sở vật chất để hướng tới những mục tiêu nhất định trong tương lai. Dựa vào toàn bộ góc độ mà tác giả đề cập ở trên, theo tác giả khái niệm Dự án đầu tư có thể được hiểu là tổng thể hồ sơ tài liệu được trình bày một cách chi tiết và có hệ thống toàn bộ các hoạt động bao gồm cả chi phí theo một kế hoạch làm việc nhất định nhằm hướng tới những kết quả tốt đẹp nhất cho một mục tiêu gần nhất trong tương lai.
Bên cạnh đó Luật xây dựng 2014 tại khoản 15 cũng giải thích rõ khái niệm về dự án đầu tư như sau: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liến quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. 14 Từ những phân tích mà tác giả đề cập, có thể hiểu rằng “Dự án nhà ở thương mại là một trong những bộ phận quan trọng của dự án đầu tư xây dựng” bởi lẽ việc xây dựng nhà ở thương mại đơn thuần phục vụ cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp nhưng nội hàm của vấn đề là phục vụ cho nhu cầu giải quyết chỗ ở cho con người và góp phần phục vụ cho mục đích chung của xã hội trong quá trình đô thị hóa hiện nay. Xu thế chung hiện nay ở Việt Nam nói chung và một số nước trong khu vực châu á đó là sự dịch chuyển dân số đến các thành phố lớn để tìm kiếm việc làm, gia tăng dân số, yêu cầu cải thiện chổ ở, sự thiếu đồng bộ trong phê duyệt quy hoạch đã làm cho sự lệch lạc trong kiến trúc của một số thành phố lớn.