mở đầu tiên có mặt là Vietnam Emerging Equity Fund được quản lý bởi PXP Vietnam AM, cuối năm 2016 quỹ này đang quản lý khoảng hơn 119 triệu USD giá trị tài sản ròng. Xuất hiện sau, vào năm 2006, JPMorgan Vietnam Opportunities Fund là quỹ mở thứ hai có mặt tại Việt Nam và giá trị vốn hóa khoảng 180 triệu USD vào cuối năm 2016. Sau đó, nhiều quỹ mở khác cũng có mặt như Vietnam Emerging Market Fund, Lion Global Vietnam Fund, Lumen Vietnam Fund, Vietnam Equity Fund, Tundra Vietnam, Forum One - VCG Partners Vietnam Fund. Tiếp theo sự xuất hiện của các quỹ đóng và quỹ mở tại Việt Nam là quỹ đầu tư chỉ số ETF (Exchange Traded Fund).
Quỹ đầu tư chỉ số nước ngoài xuất hiện sớm nhất tại thị trường Việt Nam là quỹ FTSE Vietnam ETF được thành lập năm 2008 và được quản lý bởi tổ chức tài chính Deutsche Bank AG. Sau đó, năm 2009, quỹ Market Vectors Vietnam ra đời và được quản lý bởi VanEck Global. Cuối năm 2011, quỹ đầu tư chỉ số thứ 3 được thành lập là MSCI Frontier Markets Index ETF. Tiếp sau đó là các quỹ đầu tư chỉ số IShares MSCI Frontier 100 Index Fund và một quỹ chờ xin được cấp phép từ UBCK Mỹ là IShares MSCI Vietnam Investable Market Index Fund ETF.
9 Phần tiếp theo của khóa luận, tác giả sẽ trình bày rõ hơn về quỹ đầu tư chỉ số và các quỹ đầu tư chỉ số nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Đây là một trong số hai đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận.3 Qũy đầu tư chỉ số và các quỹ đầu tư chỉ số nước ngoài hoạt động tại thị trường chứng khoán Việt Nam 1.1 Qũy đầu tư chỉ số Theo định nghĩa của Ủy ban chứng khoán Mỹ, quỹ đầu tư chỉ số hay còn gọi là quỹ hoán đổi danh mục (Exchange Traded Fund - ETF) là một quỹ đầu tư được xây dựng và quản lý với mục đích là mô phỏng diễn biến của một chỉ số, trái phiếu, hàng hóa, tiền tệ, một rổ cổ phiếu hoặc đánh cược ngược lại với sự biến động của một chỉ số tham chiếu. Toàn bộ số tiền góp của quỹ ETF sẽ được giải ngân vào tất cả cổ phiếu của một chỉ số nào đó (ví dụ như S&P500 hoặc Nikkei 225). ETF có chứng chỉ quỹ, được niêm yết và giao dịch như một cổ phiếu.
Lịch sử ra đời của ETF bắt đầu từ năm 1993 (Agapova, 2011), ETF ra đời bởi một tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính đến từ Bắc Mỹ có tên là State Street. Họ phát triển một loại sản phẩm để làm sao có thể theo dõi sát nhất diễn biến của chỉ số S&P 500, sản phẩm đó bắt đầu với tên gọi là quỹ hoán đổi danh mục và được giao dịch trên thị trường NYSE dưới mã SPY. Những năm sau đó, quỹ hoán đổi danh mục bắt đầu nở rộ và phát triển ở hầu hết các thị trường bao gồm tại các thị trường phát triển như Mỹ, Châu Âu, Úc, Nhật Bản đến các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Braxin và thị trường biên như Sri Lanka, Nigêria, Việt Nam. Những lý do làm cho sự phát triển của các ETF trở nên mạnh mẽ và phổ biến là do tính ưu việt của nó so với loại hình truyền thống như các quỹ tương hỗ (mutualfunds).
Theo các so sánh bởi ETF, tính ưu việt này được thể hiện thông qua một số các chỉ tiêu cơ bản như sau: Tính thanh khoản tốt hơn: các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng chỉ quỹ ETF bất cứ lúc nào trong ngày giao dịch tương tự như bất kỳ một mã cổ phiếu nào khác. Trong khi quỹ tương hỗ, nhà đầu tư phải đợi đến cuối phiêu giao dịch để xác định giá đóng cửa – đây là một chi chí trì hoãn tốn kém. Chi phí thấp hơn: chi phí hoạt động của các ETF thấp hơn nhiều so với các quỹ đầu tư tương hỗ. Lý do được giải thích là khi nhà đầu tư mua cổ phần của một quỹ tương hỗ họ phải đến trực tiếp quỹ đó, đồng thời quỹ tương hỗ phải mất nhiều thời gian, nguồn lực để 10 thu thập các thông tin liên quan đến cá nhân của nhà đầu tư vì vậy phát sinh các chi phí trong hoạt động và nó được hạch toán vào phí.
Trong khi đối với các ETF, nhà đầu tư chỉ cần thực hiện thông qua các tổ chức môi giới trong một khoảng thời gian rất ngắn, do vậy chi phí thấp hơn nhiều. Tính minh bạch: Các thông tin liên quan đến danh mục của ETFs được công bố hằng ngày, điều này tạo ra sự khác biệt so với tính chất “bí mật” của các loại quỹ khác khi chỉ thường công bố thông tin vào cuối mỗi quý. Chính vì vậy, các nhà đầu tư vào quỹ ETF rất dễ dàng để biết được thông tin những loại tài sản mình đang sở hữu. Tính linh hoạt: bởi vì ETF giao dịch như một cổ phiếu do vậy nhà đầu tư có thể làm mọi việc với nó như sử dụng margin (vay) để mua chứng chỉ quỹ, bán khống.
Các việc này không được hoặc rất khó để làm nếu là các quỹ tương hỗ. Ngoài ra, bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể dễ dàng lựa chọn đầu tư một hoặc một vài trong số nhiều ETF phù hợp với chiến lược, khẩu vị rủi ro cũng như kỳ vọng của mình. Điều này là khó tìm thấy ở các quỹ đầu tư tương hỗ. Tuy nhiên, việc nắm giữ các chứng chỉ quỹ ETF cũng gặp phải một số rủi ro: Rủi ro về yếu tố thị trường có thể coi là một dạng rủi ro lớn nhất đối với hoạt động của các quỹ ETFs.
Bởi vì, cơ chế hoạt động của quỹ là mô phỏng theo chỉ số thị trường do vậy các quỹ ETFs cũng sẽ chịu những biến động tương tự như biến động của thị trường (dựa trên chỉ số mà ETF mô phỏng). Rủi ro thứ hai được xuất phát từ lợi thế của loại quỹ này chính là sự đa dạng. Nhà đầu tư trở nên khó khăn hơn trong các quyết định lựa chọn chứng chỉ quỹ để đầu tư vì hiện nay trên thế giới có hơn 1.500 ETFs đang hoạt động. Rủi ro thứ ba, rủi ro về ty giá.
Đây là dạng rủi ro mang tính đặc thù của các quỹ ETFs. Bởi vì, chứng chỉ quỹ có thể được niêm yết ở một thị trường khác so với các tài sản cơ sở mà danh mục quỹ ETF đang sở hữu. Các ETF trên thế giới có quy mô khá lớn. Số liệu thống kê của trung tâm dữ liệu Statista4, cho thấy sự gia tăng rất nhanh chóng số lượng ETFs trên toàn cầu, cụ thể năm 2011 số lượng ETFs trên toàn câu chỉ 276 quỹ thì đến 2021 số lượng ETFs trên toàn cầu đã lên đến 4.779 quỹ (gấp 17,3 lần), chi tiết được minh họa ở Hình 1: 11 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 Thời gian Hình 1: Số lượng ETFs trên thế giới giai đoạn 2011-2021 (Nguồn: Investing.com) Bên cạnh đó nếu xét về giá trị, giá trị tài sản được quản lý bởi ETFs trên toàn cầu năm 2015 là hơn 1.300 ty USD thì con số giá trị tài sản 2016 là hơn 3.400 ty USD (gấp 2,6 lần), chi tiết được thống kê ở bảng 1 và được minh họa ở Hình 2.
Các quỹ ETF của Mỹ cho thấy dẫn dắt thị trường quỹ ETF toàn cầu, giá trị tài sản của các quỹ ETF tại Mỹ chiếm khoảng 70% tổng giá trị tài sản của các quỹ ETF trên toàn cầu qua các năm từ 2015 – 2021. Bảng 1: Giá trị tài sản được quản lý bởi FTFs trên thế giới Châu Á Thái Khu Năm Mỹ Châu Âu Bình Dương vực Tổng khác 2015 893,3 283,1 83,5 51,6 1.com) 12 Hình 2: Giá trị tài sản quản lý bởi ETFs trên thế giới giai đoạn 2015-2021 4000 3500 93,6 314 3000 73,6 283,5 543,7 79,7 2500 206,4 488,8 75 438,5 2000 169,3 394,5 73,2 135,5 1500 54,2 333,2 51,6 83,5 90,7 2.214,20 500 893,3 939,3 0 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 Mỹ Châu Âu Châu Á Thái Bình Dương Khu Vực Khác (Nguồn: www.com) Theo thống kê của trung tâm dữ liệu ETF, tại thời điểm cuối 2021 cho thấy Quỹ đầu tư chỉ số SPDR S&P 500 ETF mã là SPY là quỹ đầu tư chỉ số lớn nhất toàn cầu tính theo tổng tài sản quản lý khoảng 236 tỷ USD, khối lượng giao dịch bình quân của SPY đạt hơn 60 triệu đơn vị/ngày, tiếp theo sau là các quỹ như IShares Core S&P 500 ETF, Vanguard Total Stock Market ETF, IShares MSCI EAFE ETF. Danh mục mười quỹ đầu tư chỉ số lớn nhất toàn cầu được trình bày ở bảng 2: Bảng 2: Mười quỹ đầu tư chỉ số ETFs lớn nhất toàn cầu 2021 Khối Tài sản quản lý Stt Mã Tên quỹ đầu tư chỉ số lượng(đơn (USD) vị) 1 SPY SPDR S&P 500 ETF 236.461 2 IVV IShares Core S&P 500 ETF 116.420 3 VTI Vanguard Total Stock Market ETF 80.275 4 EFA IShares MSCI EAFE ETF 76.193 5 VOO Vanguard S&P 500 ETF 70.092 6 VWO Vanguard FTSE Emerging Markets ETF 55.167 7 VEA Vanguard FTSE Developed Markets ETF 55.544 8 QQQ PowerShares QQQ ETF 47.629 9 AGG IShares Core U. Aggregate Bond ETF 47.622 10 IJH IShares Core S&P Mid-Cap ETF 39.2 Một số quỹ ETF nước ngoài tại Việt Nam 1.1 Các quỹ ETFs nước ngoài tại Việt Nam TTCK Việt Nam là một thị trường mới được thành lập, năng động và có sức hút lớn đối với NĐTNN.
Theo đánh giá của MSCI (Morgan Stanley Capital International) năm 2015, TTCK Việt Nam nằm trong nhóm các thị trường biên và tiến sát tới các thị trường mới nổi. Các quỹ ETF tại thị trường mới nổi và các thị trường cận biên rất được các nhà đầu tư trên thế giới quan tâm và ưa chuộng bởi được kỳ vọng là sẽ đem lại nhiều lợi nhuận đầu tư và tương ứng với các thách thức thú vị hơn so với các quốc gia phát triển. Theo Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, một số các thị trường mới nổi danh tiếng nhất và nằm trong nhóm được gọi là BRIC như Braxin,Nga, Ấn Độ và Trung Quốc và một số các thị trường cận biên như Sri Lanka, Nigêria và Việt Nam. NĐTNN khi đầu tư vào Việt Nam họ thích sử dụng các chỉ số do tổ chức nước ngoài xây dựng để đánh giá về thước đo lợi nhuận thị trường hơn là các chỉ số có sẵn tại như VN- Index.