Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 1. Khái quát về phân tích và định giá cổ phiếu Phân tích cơ bản là phương pháp phân tích cổ phiếu dựa trên các nhân tố mang tính chất nền tảng có tác động hoặc dẫn đến sự thay đổi giá cả của cổ phiếu nhằm chỉ ra giá trị thực của cổ phiếu trên thị trường. Sự chênh lệch của giá trị thị trường so với giá trị thực của một cổ phiếu. Phân tích cơ bản gồm hai quá trình: Phân tích cổ phiếu và định giá cổ phiếu 1.1 Phân tích cổ phiếu Phân tích cổ phiếu là cách tiếp cận theo ba bước: Phân tích nền kinh tế, phân tích ngành và phân tích công ty 1.1 Phân tích nền kinh tế Nền kinh tế thế giới Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước, đến triển vọng xuất khẩu ngành và công ty.
Thứ hai, cạnh tranh về giá từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài mà công ty phải đương đầu, hay lợi nhuận công ty đạt được. Thứ ba, tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài. Nền kinh tế vĩ mô trong nước Biến động của thị trường chứng khoán có liên quan chặt chẽ tới nền kinh tế vĩ mô trong nước. Nên việc phân tích kinh tế vĩ mô là nhằm đánh giá môi trường kinh doanh và tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty, từ đó tác động đến giá cổ phiếu của công ty.
Mọi diễn biến của nền kinh tế trong nước nói chung và toàn thể thị trường chứng khoán cũng có thể ảnh hưởng tới diễn biến giá cổ phiếu của toàn ngành và công ty. 8 Một số nhân tố vĩ mô cơ bản tác động trực tiếp tới giá cổ phiếu và hoạt động phân tích, định giá cổ phiếu như: - Tăng trưởng GDP: GDP là số đo tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế. GDP tăng trưởng nhanh cho thấy nền kinh tế đang mở rộng với cơ hội to lớn cho doanh nghiệp gia tăng doanh số và lợi nhuận. - Việc làm: Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ những người chưa tìm được việc làm trong tổng lực lượng lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp đo lường mức độ hoạt động hết công suất của nền kinh tế. - Lạm phát: là sự mất giá của đồng tiền, nó là một vấn đề rất nhạy cảm và tác động rất lớn đến nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng. Lạm phát tác động đến đầu tư thông qua lãi suất, tăng trưởng kinh tế. Lạm phát ở mức thấp sẽ khuyến khích đầu tư và sử dụng các nguồn lực, ngược lại, lạm phát quá cao sẽ làm giảm tăng trưởng và hạn chế đầu tư.
- Lãi suất: Mức lãi suất có lẽ là yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng nhất cần xem xét trong phân tích đầu tư. Sự gia tăng lãi suất có xu hướng là những tin xấu đối với thị trường cổ phiếu. - Thâm hụt ngân sách: Thâm hụt ngân sách nhà nước là chênh lệch giữa thu và chi ngân sách của chính phủ. Bất kỳ mức thiếu hụt ngân sách nào cũng phải được bù đắp bằng vay mượn của chính phủ.
Các nhà kinh tế tin rằng vay mượn chính phủ thái quá sẽ “chèn lấn” vay mượn tư nhân và đầu tư bằng cách buộc lãi suất tăng lên và ức chế đầu tư kinh doanh. - Tâm lý: Tâm lý bi quan và lạc quan của người tiêu dùng và nhà sản xuất về nền kinh tế cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả kinh tế. 9 - Chính sách của chính phủ Chính sách tài khóa Chính sách tài khóa: Sử dụng chi tiêu và thu thuế của chính phủ cho mục đích cụ thể là bình ổn nền kinh tế. Chính sách tài khoá liên quan đến hành động chi tiêu và thu thuế của chính phủ và là một phần của việc ‘quản lý về phía cầu’.
Chính sách tài khoá có lẽ là phương thức trực tiếp nhất để kích cầu hoặc làm nền kinh tế chậm lại. Giảm chi tiêu chính phủ sẽ trực tiếp làm giảm phát cầu hàng hóa và dịch vụ. Tương tự, việc tăng thuế suất ngay lập tức sẽ bơm hút thu nhập từ người tiêu dùng về phía chính phủ và dẫn đến giảm tiêu dùng tương đối nhanh. Chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là những hành động của Hội đồng thống đốc thuộc Hệ thống dự trữ liên bang nhằm ảnh hưởng đến cung tiền hay lãi suất.
Chính sách tiền tệ liên quan đến việc điều chỉnh cung tiền để ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô và là phần chủ lực trong chính sách về phía cầu. Chính sách tiền tệ chủ yếu phát huy tác dụng thông qua tác động đến lãi suất. Tăng cung tiền làm giảm lãi suất ngắn hạn, cuối cùng khuyến khích cầu đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong dài hạn, hầu hết các nhà kinh tế tin rằng cung tiền cao hơn chỉ dẫn đến mức giá cao hơn và không có tác động lâu dài đến hoạt động kinh tế.
Vì thế, cơ quan quản lý tiền tệ đứng trước sự cân bằng khó khăn. Chính sách tiền tệ mở rộng có lẽ sẽ làm hạ lãi suất và qua đó kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong ngắn hạn, nhưng những tình huống này cuối cùng chỉ dẫn đến mức giá cao hơn mà thôi. Sự đánh đổi giữa kích cầu và lạm phát là ngầm ẩn trong mọi cuộc tranh luận về chính sách tiền tệ thích hợp. 10 Chu kỳ của nền kinh tế (Chu kỳ kinh doanh) Biểu đồ 1.
Biểu đồ chu kỳ nền kinh tế Giai đoạn suy thoái (recession): Đây là thời điểm nền kinh tế bắt đầu đi xuống. Sản lượng hàng hóa suy giảm, doanh nghiệp cắt bớt số lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp tăng. Lãi tín dụng bị siết chặt dẫn đến chi phí tài chính tăng vọt, trong khi đó doanh thu không thể tăng lên. Hậu quả dẫn đến GDP sụt giảm.
Giai đoạn đáy chu kỳ kinh tế (trough): Tại thời kỳ này, nền kinh tế giảm sút tới mức vô cùng nghiêm trọng. Chính phủ bắt đầu các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, ví dụ như giảm lãi suất để hỗ trợ các doanh nghiệp. Nguồn tiền được bơm vào nền kinh tế khiến cho người tiêu dùng và doanh nghiệp tăng chi tiêu. Giai đoạn phục hồi (recovery): Nhờ vào những nỗ lực cứu vãn trước đó, nền kinh tế bắt đầu dần hồi phục.
Lúc này, ngân hàng sẽ tăng mức lãi suất vay vốn, mức tín dụng sẽ tiếp tục tăng trưởng. Sản lượng và công suất sản xuất sẽ tăng lên đáng kể. Điều này dẫn đến doanh nghiệp ghi nhận doanh thu và lợi nhuận nhiều hơn trước. 11 Giai đoạn đỉnh chu kỳ kinh tế (peak): Trong giai đoạn này, GDP vẫn tiếp tục tăng nhưng đã chậm hơn so với các giai đoạn trước đó đã đạt đỉnh.
Đây cũng là thời kỳ lạm phát tăng nhanh. Doanh nghiệp không còn tuyển dụng thêm người lao động nhiều như trước. Khi GDP tăng tới đỉnh, đồng tiền mất giá quá nhiều do lạm phát, nền kinh tế sẽ có dấu hiệu khủng hoảng và bước vào giai đoạn suy thoái, bắt đầu bước vào chu kỳ mới. Mối liên hệ giữa phân tích nền kinh tế và thị trường chứng khoán Biểu đồ 1.
Mối liên hệ giữa chu kỳ nền kinh tế và chu kỳ thị trường chứng khoán Có thể thấy như trên biểu đồ, thị trường chứng khoán luôn đi trước so với nền kinh tế. Lý do vì chứng khoán phản ánh kỳ vọng vào tương lai của doanh nghiệp. Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, thị trường chứng khoán sẽ chạm đáy. Điểm đáy của một chu kỳ kinh tế là lúc thị trường chứng khoán bắt đầu tăng nhẹ.
Chứng khoán sẽ tăng mạnh nhất vào lúc nền kinh tế đang trong giai đoạn hồi phục. Và đến khi chu kỳ kinh tế đạt đỉnh thì đó là lúc thị trường sẽ bắt đầu đi xuống 1. Phân tích ngành Phân tích ngành có vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị nội tại của công ty. Bởi vì, một ngành khó có thể hoạt động tốt khi nền kinh tế vĩ mô đang 12 ốm yếu; tương tự như vậy, công ty trong một ngành đang gặp những khó khăn thì chắc chắn công ty đó sẽ khó có thể hoạt động tốt được.
Quá trình phân tích ngành bao gồm: phân tích độ nhạy của chu kỳ ngành, phân tích chu kỳ sống của ngành, và phân tích môi trường cạnh tranh của ngành. Độ nhạy cảm của chu kỳ ngành Khi phân tích để dự báo trạng thái của nền kinh tế, điều cần thiết là phải xác định được ảnh hưởng của trạng thái nền kinh tế đó đối với các ngành cụ thể. Bởi lẽ, mỗi ngành sẽ có độ nhạy cảm so với chu kỳ kinh doanh khác nhau. Có một số ngành nhạy cảm hơn so với những ngành khách trong một chu kỳ kinh doanh.
Phân tích về chu kỳ sống của ngành Hình 1. Vòng quay chu kỳ sống của ngành - Giai đoạn khởi động (Startup): Công nghệ hoặc sản phẩm mới; tăng trưởng rất nhanh. Rủi ro cao ở cấp công ty, nhưng doanh số và thu nhập tăng rất nhanh ở cấp ngành. - Giai đoạn tăng trưởng (growth): 13 Xuất hiện những công ty hàng đầu.
Động thái của ngành và công ty ăn khớp nhau. Tăng trưởng giảm tốc nhưng vẫn nhanh hơn nền kinh tế nói chung. - Giai đoạn bão hòa: Sản phẩm đã bão hòa trên thị trường. Cạnh tranh bằng giá mạnh hơn => lợi nhuận giảm.
Dòng tiền ổn định nhưng cơ hội mở rộng có lợi nhuận hầu như không có. - Giai đoạn suy giảm: Tăng trưởng thấp hơn nền kinh tế hoặc thu hẹp lại Phân tích tính cạnh tranh của ngành Là khâu quan trọng nhất để dự báo thu nhập của ngành và cả công ty trong ngành. Dự báo được tăng trưởng thu nhập bình quân ngành có vai trò quan trong đối với công tác định giá cổ phiếu của công ty trong ngành. Bởi để phân tích được kết quả của công ty, ta phải gắn nó với ngành đang hoạt động, so sánh đà tăng trưởng của công ty với trung bình ngành.
Việc một công ty có vị thế trong ngành hay không thể hiện một phần quan trọng ở các chỉ số tăng trưởng của công ty có cao hơn trung bình ngành hay không. Cạnh tranh giữa các hãng đang tồn tại Khi có một vài đối thủ cạnh tranh trong ngành, nói chung sẽ có sự cạnh tranh về giá và biên lợi nhuận thấp hơn khi các đối thủ tìm cách mở rộng thị phần.