phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng I: Khái quát chung về quyền sử dụng đối tƣợng SHCN và chuyển giao quyền sử dụng đối tƣợng SHCN. Trong chƣơng 1, tác giả luận văn sẽ làm rõ những khái niệm mà luận văn sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu; phân tích những đặc điểm của quyền SHCN; quyền sử dụng đối tƣợng SHCN và chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN trên cơ sở lý luận chung về quyền sử dụng và chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN qua đó thấy đƣợc những nội dung cơ bản của pháp luật về chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN. Ngoài ra, để làm nổi bật những vấn đề pháp lý về chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN, luận văn cũng có những so sánh, đánh giá và nghiên cứu pháp luật quốc tế về nội dung này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng II: Các quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng đối tƣợng SHCN.
Chƣơng 2 của luận văn tập trung phân tích hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN và các điều kiện hạn chế chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN theo pháp luật Việt Nam. Với sự so sánh với nội dung này ở chƣơng 1, luận văn đƣa ra cái nhìn tổng quan nhất về chuyển giao quyền sử dụng đối tƣợng SHCN và từ đó có đƣợc những nhận xét, đánh giá về những quy định của pháp luật Việt Nam Chƣơng III: Thực trạng hoạt động chuyển giao quyền sử dụng đối tƣợng SHCN ở Việt Nam và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Nội dung của chƣơng 3 tập trung vào thực tiễn hoạt động chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN ở Việt Nam và trên thế giới, những bất cập trong hoạt động thực thi pháp luật chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN và từ đó có những giải pháp cho pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển quyền sử dụng đối tƣợng SHCN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI TƢỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI TƢỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về quyền SHCN 1.1 Khái niệm quyền SHCN Khái niệm quyền SHCN là một bộ phận cấu thành của một khái niệm có nội hàm rộng hơn, đó là quyền SHTT. Do vậy, trƣớc khi nghiên cứu nội dung khái niệm quyền SHCN, cần phải hiểu quyền SHTT là gì. Khái niệm sở hữu trí tuệ thực chất đã có từ lâu đời nay.Tuy nhiên, sự phổ biến của nó trong xã hội vẫn chƣa thực sự rộng rãi. SHTT có thể đƣợc hiểu một cách chung nhất là những kết quả sáng tạo mang tính vô hình nhƣng khi đƣợc ứng dụng vào các sản phẩm hữu hình nó lại có giá trị rất to lớn.
Đó chính là sản phẩm của quá trình sáng tạo khoa học – công nghệ, văn học, nghệ thuật, khoa học… Khái niệm về SHTT cũng đƣợc hình thành và đƣợc đề cập đến cùng với quá trình áp dụng trí tƣởng tƣợng và tri thức của con ngƣời trong việc đổi mới và sáng tạo. Công ƣớc thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO tại Stockholm ngày 14/7/1967 đã đƣa ra hệ thống các đối tƣợng thuộc phạm trù SHTT đƣợc chấp nhận trên toàn thế giới, gồm: a) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; b) Cuộc biểu diễn, bản ghi âm và cuộc phát sóng; c) Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của con ngƣời; d) Phát minh khoa học; e) Kiểu dáng công nghiệp; f) Nhãn hiệu, tên và chỉ dẫn thƣơng mại; g) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com h) Tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. Trong đó, các đối tƣợng thuộc nhóm (a) và (b) đƣợc điều chỉnh theo pháp luật bảo vệ “quyền tác giả và quyền liên quan”, các nhóm đối tƣợng còn lại đƣợc bảo vệ với tƣ cách “quyền SHCN”. Nhƣ vậy, theo công ƣớc này, quyền tác giả cùng với quyền SHCN là hai bộ phận cấu thành của chế định quyền SHTT.
Đây là một chế định pháp luật quan trọng quy định về các vấn đề thiết lập và bảo hộ quyền của những ngƣời sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ. Khác với việc bảo hộ các đối tƣợng của quyền tác giả, quyền SHCN đƣợc thừa nhận nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo trí tuệ của con ngƣời trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.Với sự ghi nhận, bảo hộ bởi của nhà nƣớc, quyền SHCN trở thành một tài sản có ý nghĩa lớn đối với các chủ thể đầu tƣ và sáng tạo ra các đối tƣợng SHCN. Có thể thấy, yếu tố cốt lõi, bắt buộc phải có của quyền SHCN đó là “các đối tƣợng SHCN”. Trong đó, các đối tƣợng đƣợc bảo hộ dƣới quyền SHCN thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ và thƣơng mại bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, các chỉ dẫn thƣơng mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Theo công ƣớc Paris về bảo hộ quyền SHCN: “Đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”[6].Thêm vào đó, Công ƣớc Paris cũng quy định “sở hữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất và sẽ áp dụng không chỉ cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà còn cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp chiết xuất, khai thác và cho tất cả các sản phẩm tự nhiên hoặc được sản xuất như nho, hạt ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, các khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột mì”[6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm quyền SHCN có thể đƣợc hiểu theo hai cách sau: Theo nghĩa khách quan, chế định quyền SHCN là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo dựng, khai thác, sử dụng các đối tƣợng SHCN đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ. Theo nghĩa chủ quan, quyền SHCN là các quyền dân sự cụ thể của các chủ sở hữu trong vệc sử dụng , định đoạt các đối tƣợng SHCN và ngăn cấm các chủ thể khác sử dụng đối tƣợng SHCN của mình. Nhƣ vậy, có thể hiểu quyền SHCN là quyền của các chủ thể trong việc đầu tư và sáng tạo ra các đối tượng SHCN là sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Quyền của các chủ thể thể hiện độc quyền khai thác, sử dụng đối tƣợng SHCN cũng nhƣ ngăn cấm các hành vi sử dụng các đối tƣợng SHCN của các chủ thể khác, trừ trƣờng hợp khác do pháp luật quy định. Quyền SHCN đƣợc xác lập trên cơ sở văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hoặc cơ chế bảo hộ tự động đối với một số đối tƣợng SHCN. Đối với các đối tƣợng đƣợc xác lập quyền trên căn cứ là văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nƣớc thì chủ sở hữu đối tƣợng phải tuân thủ các thủ tục hành chính nhất định. Còn đối với các đối tƣợng đƣợc xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động thì các đối tƣợng này phải đáp ứng đƣợc các điều kiện bảo hộ cụ thể theo quy định của pháp luật.
Mục tiêu cuối cùng của hệ thống bảo hộ quyền SHCN chính là chống lại nguy cơ bị lợi dụng hoặc chiếm đoạt kết quả đầu tƣ sáng tạo và bảo vệ các cơ hội cho ngƣời đã đầu tƣ để tạo ra các kết quả sáng tạo đó, nhờ vậy mà kích thích, thúc đẩy các nỗ lực sáng tạo trong nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, bảo hộ quyền SHCN chính là bảo đảm hiệu lực quyền SHCN của chủ thể quyền, khuyến khích hoạt động đầu tƣ sáng tạo, phát triển sản xuất, buôn bán trong nƣớc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong quan hệ thƣơng mại quốc tế, việc quyền SHCN không đƣợc bảo vệ và thực thi thoả đáng, hiệu quả thì dẫn đến nguy cơ thực tiễn thƣơng mại thiếu lành mạnh và là rào cản đối với thị trƣờng tự do và mở cửa. Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng đó không cần đầu tƣ cho nghiên cứu và triển khai mà có thể bắt chƣớc, sao chép và bán các sản phẩm với giá rẻ hơn nhiều, từ đó chiếm lĩnh thị phần và dần loại các sản phẩm hợp pháp ra khỏi thị trƣờng.
Kết quả là các nhà sản xuất chân chính khó có khả năng thu hồi vốn đầu tƣ và lợi nhuận cần thiết để tiếp tục duy trì hoạt động cải tiến và sáng tạo, bao gồm cả việc tạo ra các sản phẩm mới, làm thiệt hại đối với các quyền lợi thƣơng mại và đầu tƣ của họ. Hiện nay, nhiều nƣớc, đặc biệt là các nƣớc phát triển, đã coi việc bảo vệ các tài sản trí tuệ của họ nhƣ là điều kiện không thể thiếu đƣợc trong việc thiết lập các quan hệ thƣơng mại (ví dụ nhƣ Hiệp định Thƣơng mại Việt - Mỹ). Tại Điều 7 của Hiệp định TRIPs quy định rằng, việc bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ “góp phần thúc đẩy cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho cả ngƣời sáng tạo và ngƣời sử dụng công nghệ, cũng nhƣ lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và bảo đảm sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”. Do đó, nếu hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp không hiệu quả thì sẽ làm tổn hại đến chính sách hội nhập quốc tế và đầu tƣ nƣớc ngoài của quốc gia cho sự phát triển của mình.2 Đặc điểm quyền SHCN Xuất phát từ tính đặc thù của các đối tƣợng SHCN, quyền SHCN có những đặc điểm khác với các quyền sở hữu tài sản hữu hình và khác với quyền tác giả- một bộ phận của quyền SHTT.
Thứ nhất, khi so sánh quyền SHCN với quyền sở hữu tài sản hữu hình, quyền SHCN có các đặc điểm cơ bản sau: - Quyền SHCN là mộttài sản vô hình. Tài sản vô hình là tất cả những gì không thể cầm, nắm, giữ nhƣng lại có thể mang lại giá trị thặng dƣ và đƣợc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy đổi giá trị thành tiền hoặc những tài sản hữu hình có giá khác.