Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ tại Hà Nội giai đoạn 2000 - 2012 đã tạo ra những biến động sâu sắc đối với các vùng nông thôn ven đô. Làng Triều Khúc thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì với tổng diện tích tự nhiên 198,48 ha là một điển hình tiêu biểu cho sự chuyển mình này. Trong giai đoạn 2000 - 2012, diện tích đất nông nghiệp của địa phương bị thu hẹp đáng kể, chỉ còn 99,26 ha vào năm 2011 để nhường chỗ cho 98,73 ha đất phi nông nghiệp và các dự án phát triển đô thị. Sự suy giảm tư liệu sản xuất truyền thống đã đặt hơn 2.500 hộ dân nơi đây trước yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc phương thức mưu sinh.

Luận văn tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để cộng đồng cư dân làng nghề ven đô thích ứng và biến đổi các nguồn lực sẵn có nhằm đảm bảo đời sống trước áp lực thu hồi đất và hội nhập kinh tế. Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích thực trạng biến chuyển của 5 nguồn vốn sinh kế, nhận diện các động lực thúc đẩy và hệ quả kinh tế - xã hội - môi trường, từ đó luận giải tính quy luật trong chiến lược thích ứng của người dân.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tại làng cổ Triều Khúc trong khung thời gian trọng tâm từ năm 2000 đến năm 2012, kết hợp nguồn tư liệu khảo sát thực địa giai đoạn 2011 - 2012. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp bức tranh dữ liệu lịch sử xác thực, đo lường tác động chuyển đổi sinh kế với mức tăng trưởng thu nhập bình quân gấp 3,5 lần và sự chuyển dịch của hơn 70% lao động sang khu vực phi nông nghiệp. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho các làng nghề ven đô trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) ban hành năm 1999 làm trụ cột lý thuyết chủ đạo. Mô hình này đặt trọng tâm vào 5 nguồn lực sinh kế căn bản bao gồm: Nguồn vốn tự nhiên (N), Nguồn vốn con người (H), Nguồn vốn tài chính (F), Nguồn vốn vật chất (P) và Nguồn vốn xã hội (S). Các nguồn vốn này vận hành tương tác trong bối cảnh dễ bị tổn thương và chịu sự điều tiết trực tiếp từ các thể chế chính sách, quy chuẩn pháp luật và cơ chế quản trị đô thị.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp sáng tạo Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1954) theo định hướng tiếp cận của Giáo sư Phạm Hồng Tung (2014) nhằm phân tích động lực nội tại thúc đẩy các hộ gia đình thay đổi hành vi kinh tế. Luận văn chuẩn hóa và vận hành 4 khái niệm khoa học then chốt: Sinh kế bền vững theo định nghĩa của Robert Chambers và Gordon Conway (1992); Chuyển đổi sinh kế; Chiến lược sinh kế; và Làng nghề truyền thống theo tiêu chuẩn quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Quyết định số 6846/QĐ-UBND ngày 30/12/2009 của UBND thành phố Hà Nội công nhận Triều Khúc là Làng nghề truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 2 kênh chính thống: nguồn tài liệu thành văn bao gồm các báo cáo kinh tế - xã hội xã Tân Triều giai đoạn 2000 - 2012, tư liệu Địa bạ Gia Long năm thứ tư (1805) với 160,29 ha đất đai; và nguồn dữ liệu điều tra thực địa được triển khai từ năm 2011 đến năm 2012.

Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập với 120 phiếu điều tra bảng hỏi cấu trúc đại diện cho các nhóm hộ gia đình tại 5 cụm xóm: xóm Chùa, xóm Đình, xóm Cầu, xóm Án và xóm Lẻ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ các phân tầng kinh tế: hộ thuần nông, hộ tiểu thủ công nghiệp dệt, hộ tái chế phế liệu và hộ kinh doanh dịch vụ thương mại. Tác giả thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo UBND xã Tân Triều, Ban chủ nhiệm Hợp tác xã Công nghiệp Dệt Triều Khúc, trưởng thôn, các nghệ nhân và chủ cơ sở sản xuất tiêu biểu.

Về phương pháp phân tích, luận văn kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình biến đổi theo dòng thời gian và không gian. Phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh định tính - định lượng được lựa chọn vì giúp bóc tách chính xác mối quan hệ nhân quả giữa quá trình đô thị hóa với sự thuyên giảm nguồn vốn tự nhiên và gia tăng nguồn vốn tài chính của cư dân làng nghề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nguồn vốn tự nhiên bị sụt giảm nghiêm trọng trong khi nguồn vốn vật chất được hiện đại hóa mạnh mẽ. Dữ liệu địa chính cho thấy diện tích đất nông nghiệp năm 2011 chỉ còn 99,26 ha, chiếm gần 50% tổng diện tích tự nhiên của làng, giảm mạnh so với mức 150 ha vào năm 1993. Bù lại, hệ thống nhà cao tầng kiên cố, đường bê tông hóa nông thôn và hạ tầng điện phục vụ sản xuất gia tăng nhanh chóng với 100% đường làng được trải nhựa hoặc bê tông hóa.

Thứ hai, cơ cấu lao động chuyển dịch triệt để từ khu vực nông nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp giảm xuống dưới 10% vào năm 2012, trong khi tỷ lệ lao động thương mại - dịch vụ và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm hơn 85%. Đặc biệt, mô hình kinh doanh nhà trọ cho sinh viên bùng nổ mạnh mẽ với số lượng người thuê trọ giai đoạn 2008 - 2012 thường xuyên dao động từ 3.000 đến 5.000 người mỗi năm do nằm cạnh các trường đại học lớn.

Thứ ba, nguồn vốn tài chính và mức sống hộ gia đình được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân của các hộ kinh doanh dịch vụ và tái chế nhựa đạt từ 12 đến 25 triệu đồng mỗi tháng vào năm 2012, cao gấp khoảng 3,5 lần so với thu nhập từ nông nghiệp trước năm 2000. Dòng tiền đền bù đất đai được 65% hộ gia đình tái đầu tư vào xây dựng phòng trọ, mua sắm máy móc dệt tự động và mở rộng buôn bán.

Thứ tư, gia tăng xung đột môi trường và áp lực lên chất lượng cuộc sống. Làng Triều Khúc ghi nhận khối lượng rác thải nhựa và phế liệu thu gom lên tới hàng chục tấn mỗi ngày trong năm 2012. Nhiệt độ môi trường trung bình trong khu dân cư làng Triều Khúc đạt mức 24 - 25 độ C, cao hơn khoảng 1 - 1,8 độ C so với mức nhiệt độ trung bình 23,2 độ C của toàn thành phố Hà Nội do ảnh hưởng từ các lò đốt và nhiệt lượng máy tạo hạt nhựa tái chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự chuyển đổi sinh kế thần tốc tại Triều Khúc bắt nguồn từ vị trí địa lý đắc địa, chỉ cách Ngã Tư Sở 3,4 km và Trung tâm Hội nghị Quốc gia 3,8 km. Sự hình thành các khu đô thị vệ tinh như Văn Quán và các trục giao thông huyết mạch đường Nguyễn Trãi, đường Vành đai 3 đã biến vùng ven đô thành trung tâm tiếp nhận thị trường hàng hóa và dịch vụ lưu trú.

Khi so sánh với làng lân cận là làng Yên Xá (cùng thuộc xã Tân Triều), tốc độ chuyển đổi sinh kế của làng Triều Khúc diễn ra nhanh và chủ động hơn nhiều. Lý do là vì Triều Khúc sở hữu truyền thống đa nghề từ thời phong kiến với hơn 40 nghề thủ công vào đầu thế kỷ XX cùng tinh thần thương nghiệp nhạy bén, giúp người dân dễ dàng chuyển từ nghề dệt quai thao, làm hoa lông vịt sang dệt công nghiệp và tái chế phế liệu nhựa.

Các chỉ số nghiên cứu được luận văn lượng hóa sinh động thông qua 24 bảng số liệu chi tiết và 2 biểu đồ so sánh cơ cấu ngành nghề trước năm 2000 và năm 2012. Kết quả thảo luận khẳng định rằng dù đạt được hiệu quả kinh tế cao, mô hình sinh kế hiện tại của Triều Khúc vẫn tiềm ẩn tính bất ổn lớn do phụ thuộc vào công nghệ tái chế thô sơ và sự suy thoái nghiêm trọng của môi trường sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và di dời dứt điểm 100% các cơ sở tái chế phế liệu nhựa gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư vào Cụm công nghiệp tập trung làng nghề Tân Triều. Thời gian thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2020. Chủ thể thực hiện là UBND huyện Thanh Trì chủ trì, phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND xã Tân Triều. Mục tiêu giảm thiểu 85% lượng khí thải độc hại và nước thải công nghiệp chưa qua xử lý xả thẳng ra hệ thống thủy văn địa phương.

Thứ hai, bảo tồn và hiện đại hóa các nghề thủ công truyền thống gắn với phát triển du lịch di sản. Tổ chức phục hồi các nghề truyền thống mang bản sắc như dệt quai thao, dây đàn tơ tằm, kết hợp khai thác điệu múa Bồng và lễ hội Đình Đại thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Thời gian triển khai từ năm 2016 đến năm 2022. Chủ thể chịu trách nhiệm là Sở Du lịch Hà Nội kết hợp với Ban Quản lý Di tích làng Triều Khúc và các nghệ nhân lão thành. Mục tiêu phấn đấu nâng tỷ trọng doanh thu từ du lịch trải nghiệm đạt 15 - 20% trong cơ cấu kinh tế làng nghề.

Thứ ba, tổ chức các lớp đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và nâng cao kỹ năng số cho 1.000 lao động trẻ tại địa phương. Thời gian thực hiện định kỳ hàng năm trong giai đoạn 2016 - 2025. Chủ thể thực hiện là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện Thanh Trì phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã Tân Triều. Mục tiêu giúp 80% lao động trong độ tuổi tiếp cận các ngành nghề dịch vụ kỹ thuật cao, thương mại điện tử và logistics thay vì phụ thuộc vào lao động chân tay giản đơn.

Thứ tư, chuẩn hóa quy chế quản lý dịch vụ kinh doanh nhà trọ và xử lý nước thải sinh hoạt. Tiến hành rà soát, cấp phép và lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy đạt chuẩn cho 100% các khu nhà trọ cho thuê trên địa bàn xóm Chùa, xóm Cầu, xóm Đình. Thời gian hoàn thành trước năm 2018. Chủ thể thực hiện là Công an huyện Thanh Trì cùng Tổ kiểm tra liên ngành xã Tân Triều, nhằm bảo đảm an ninh trật tự cho hơn 4.000 nhân khẩu tạm trú.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý đô thị cấp huyện, tỉnh. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn và số liệu địa bạ từ 160,29 ha năm 1805 đến 198,48 ha năm 2011 để các cơ quan xây dựng đồ án quy hoạch đất đai, giảm thiểu xung đột giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ không gian sống nông thôn.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Xã hội học, Nhân học và Việt Nam học. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc ứng dụng Khung sinh kế bền vững (SLF) kết hợp phương pháp điền dã lịch sử - dân tộc học để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vi mô tại các làng ven đô.

Nhóm thứ ba là Ban quản lý làng nghề, các hiệp hội thủ công mỹ nghệ và nghệ nhân dân gian. Luận văn cung cấp tư liệu lịch sử quý giá về Tổ nghề Vũ Úy và các quy chuẩn di sản, hỗ trợ xây dựng đề án bảo tồn nghề dệt quai thao cổ truyền gắn liền với các lễ hội truyền thống đã được lưu giữ qua nhiều thế kỷ.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực môi trường. Tài liệu giúp các đơn vị nắm bắt chính xác thành phần, khối lượng phế liệu thu gom tái chế và nhu cầu chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải nhựa của hơn 100 cơ sở sản xuất tại địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính dẫn đến chuyển đổi sinh kế tại làng Triều Khúc giai đoạn 2000 - 2012 là gì? Quá trình đô thị hóa nhanh chóng làm diện tích đất nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 99,26 ha vào năm 2011, kết hợp cùng vị trí địa lý đắc địa cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km đã thúc đẩy người dân chuyển từ canh tác lúa nước sang làm nghề tái chế nhựa, dệt công nghiệp và kinh doanh nhà trọ sinh viên.

Khung sinh kế bền vững (SLF) được vận dụng như thế nào trong luận văn này? Khung SLF của tổ chức DFID được sử dụng để phân tích toàn diện 5 nguồn vốn của người dân Triều Khúc bao gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội, từ đó đánh giá mức độ thích ứng của các hộ gia đình trước những cú sốc thu hồi đất đai và biến động thị trường.

Sự biến đổi của các nghề thủ công truyền thống ở Triều Khúc diễn ra theo xu hướng nào? Các nghề thủ công thủ công thuần túy như dệt quai thao nón thúng, làm tơ tằm bị mai một do thị trường thu hẹp, trong khi các nghề như dệt ruy băng, may mặc được cơ giới hóa bằng máy móc hiện đại và làng phát triển thêm nghề thu gom, phân loại, tái chế hạt nhựa công nghiệp quy mô lớn.

Tác động tiêu cực lớn nhất của quá trình chuyển đổi sinh kế tại địa phương là gì? Đó là tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước nghiêm trọng từ hoạt động nấu, giặt và tạo hạt nhựa phế liệu. Khảo sát ghi nhận nhiệt độ môi trường cục bộ tại làng lên tới 24 - 25 độ C, cao hơn mức trung bình 23,2 độ C của Hà Nội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng cư dân.

Điểm khác biệt cơ bản giữa chuyển đổi sinh kế ở làng Triều Khúc và làng Yên Xá là gì? Dù cùng trực thuộc xã Tân Triều, người dân làng Triều Khúc tận dụng truyền thống đa nghề lâu đời và tính năng động thương nghiệp để chuyển đổi rất nhanh sang công nghiệp tái chế và dịch vụ, trong khi làng Yên Xá có tiến trình chuyển đổi sinh kế diễn ra chậm hơn và chịu nhiều áp lực việc làm hơn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ quá trình chuyển dịch toàn diện của 5 nguồn vốn sinh kế tại làng Triều Khúc trong suốt giai đoạn 2000 - 2012.
  • Ghi nhận sự thích ứng năng động vượt bậc của cư dân khi chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh doanh dịch vụ nhà trọ và công nghiệp tái chế phế liệu.
  • Phản ánh trung thực mâu thuẫn sâu sắc giữa tăng trưởng thu nhập hộ gia đình gấp khoảng 3,5 lần với tình trạng ô nhiễm môi trường sống và nguy cơ thất truyền các nghề thủ công cổ.
  • Khẳng định giá trị học thuật của việc kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử với Khung phân tích sinh kế bền vững DFID trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội ven đô.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa di dời công nghiệp ô nhiễm, phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp nguồn tư liệu điều tra thực địa xác thực, giúp tái hiện sinh động lát cắt lịch sử chuyển đổi làng ven đô Hà Nội thời kỳ Đổi mới. Để tiếp tục hoàn thiện, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng theo dõi biến động sinh kế của làng giai đoạn sau năm 2015 và đánh giá hiệu quả của Cụm công nghiệp làng nghề tập trung. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý đô thị hãy khai thác nguồn dữ liệu quý báu này để đưa ra những quyết sách kịp thời, thúc đẩy mô hình phát triển sinh kế bền vững cho mạng lưới làng nghề truyền thống Việt Nam.