Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THUC TIEN VE CHUYEN DICH CO CAU SU DUNG DAT VÀ ĐÔ THỊ HÓA 1.1, Một số khái niệm 1. Đắt Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng đối với con người, là một thành phần của tự nhiên tồn tại trên bề mặt các lục địa, là điểu kiện cơ bản để đảm bảo sự sống của các loài sinh vật cũng như sy ton tại và phát triển của xã hội loài người và đất đai cũng chính là nguồn lực đồng thời nó cũng là liệu sản xuất nông nghiệp không thể thay thế được. Đặc biệt, tắm quan trọng của đất đai được để cao lên vị thế lớn khi mà xã hội loải người bắt đầu hình thành và gắn kết với hoạt động sản xuất nông nghiệp. nhất là ngành trồng trọt.
Con người bắt đầu hình thành các quy định, các quyền sở hữu đắt dai, dé tử đỏ đắt đai thực sự gắn với các ý định sử dụng của con người. Bước đầu đã đánh dấu sử dụng đất theo ý chí của con người, kể từ đó các mục địch sử dụng đất càng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng hơn như sử dụng đất mục đích với các mục đích trong nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển đô thị, định canh - định cư, hoạt động công nghiệp. khai thác mỏ, bảo tổn các giá trị văn hoá, dự trữ sinh quyền, giải trí. Mặc dù đất đai có vai trỏ rất quan trọng trong xã hội loài người nhưng các khái niệm về đất đai được đưa ra lần đầu tiên cũng khá muộn, vào thể ki XIX nhà thỏ nhưỡng học V.Đôeutsaep đã đưa ra khái niệm đất cụ thê như sau: “Đát là một vật thể tự nhiên hoàn toàn độc lập, là sản phẩm của hoạt động tông hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, tuổi và địa hình địa phương” (Đặng Duy Lợi.
2005) với khái niệm này tác giá đã làm rõ được các đặc tính phát sinh của đắt tuy nhiên tác giá chưa nêu bật được những đặc trưng cơ bàn vẻ các tính chất của đất 'Trên thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp, tố chức nông lương của Liên hợp quốc (FAO) xem đất đai là bao gồm tắt cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bŠ mặt 'Trái Đắt có ảnh hưởng nhất dinh dén tiem nang va hign trang sit dung dat. Vì vậy, đất theo nghĩa này đất được hiểu là bao gồm các yêu tổ tự nhiên như: khí hậu; địa hình; thổ nhưỡng: thủy văn; sinh vật tự nhiên. Vì vậy đất đai chính là diện tích đất cụ thé của bề mặt Trái Đắt bao gồm các nhân tổ tác động lên nó gồm khí hậu, địa hình, nước, thô nhưỡng, trằm tích. sinh vật, hoạt động của con người.
Cỏn đổi với ngành nông nghiệp thì đắt đai được xem là một nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế v khan hiểm phải đổi mặt với nhu cầu cạnh tranh và ngảy cảng tăng. Những nhu cầu này, về cơ bản, bao gdm sử dụng đất cho nông nghiệp, bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các khu công nghiệp va khu định cư của con người, và cơ sở hạ tầng (D.Kirchke và Hager JC Schmid, 2021). Còn đối với Việt Nam, trong công tác quy hoạch và sử dụng đắt, đất đai được. coi như là một trong những tài nguyễn được phân bổ theo không gian trên bề mặt Trái Đất được sử dụng cho các mục tiêu phát triển kính tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trưởng vả thích ứng với lu trên cơ sở tiểm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đổi với từng vùng kinh tế - xã hội vả đơn vị hảnh chính trong một khoảng thời gian xác định (Luật đất đai, 2013) Ngoài ra đất đai thường được sử dụng như là nguồn vốn, là hàng hóa và có thế trao đổi, mua bán.
Vì vậy tuỷ theo các mục đích cũng như nhu cẩu sử dụng đất của con người mà có những khái niệm rất khác nhau vẻ đất. Từ nhiều khái niệm trên. có thể thấy có rất nhiễu khái niệm về đất đai dưới nhiều góc độ khác nhau trong cuộc. sống Vi vay, theo tác giả, đất đai là một tư liệu sản xuất quan trọng không thể thay thể được đổi với nhiều ngành kinh tế mặc khác đó cỏn lả nơi sinh sống, tổn tại cũng vửa là nơi tổ chức các hoạt động kinh tế của nền văn minh nhãn loại.
Vì thế, đất đai ột nguồn tài nguyê: i iới hạn, địa điể é và không thể di chuyên theo ý muốn của con người và có giá trị đặc biệt vẻ kinh tế trong đời sống kinh tế - xã hội. Đô thị Các khái niệm về đô thị biện nay có sự khác biệt giữa các quốc gia trên thể giới và giữa các tỗ chức khác nhau, thậm chỉ định nghĩa về đô thị cũng thay đồi theo thời 10 quốc gia, chứng. cứu và nó luôn vận động, phát triển và thay đổi theo thời gian cùng với quá trình phát triển của xã hội. 'VỀ không gian, tại Canada quy định đô thị được phân chia thành đô thị hiện đại và đô thị cổ, đối với đô thị hiện đại được quy định bởi một vùng có trên 400 người/ km? va tổng số dân phải trên 1.000 người; nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị nảy được nhập thành một đô thị duy nhất.
Các ranh giới của một đi h ủa các khu tự quản (th Quể. Còn tại Trung Quốc. một đô thị là một khu thành thị. thành phố và thị trắn có mật độ dân số hơn 1.
Đối với các khu thành thị có mật độ dân it hon 1.500 người/kmẺ thì chỉ dân số sống trong các đường phổ. đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị (Võ Quẻ, 2018). Vẻ thời gian các khái niệm cũng liên tục thay đối theo tiến trình phát triển đô. thị để ngày càng phù hợp hơn với sự thay đối của đô thị ví dụ như: 21h là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yêu hoạt động trong lĩnh vực kinh 1d phi nông nghiệ là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trỏ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương.
bao gàm nội thành, ngoại thành của thành phổ; nội thi, ngoại thị của thị xã; thị trấn (Trương Quang Thảo, 2003). Còn theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 khái niệm đô thị được xác định như sau: Ø2 thị là khu vực tập trưng dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông. nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính kinh tế, vẫn hỏa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế = xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gém nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trân” (Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12, 2009). Khái niệm đô thị có thể được hiểu là thành phố bao gồm cả nội thành và ngoại thành, thị xã bao.
sẳm cả cả nội thị và ngoại thị. Như vậy mới đảm báo quy mô và xu hướng đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay (Olga Akbulut, 2019) Ngoài ra khái niệm đỏ thị ó nhiễ id á éu linh vực trong cuộc sông như: Đô thị theo phạm trù xã hội học: Cuối thể kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, CNH và quá trình ĐTH mạnh mề đã làm nảy sinh vô số những vấn đề xã hội tiêu cực và phức tạp tại các đô thị và vi vậy đã thu hút sự chú ý của các nhà xã hội học của Phương, ‘Tay. Tac phẩm "Đó rhj” xuất bản năm 1905, Max Weber đã chứng minh rằng cơ cấu xã hội của đô thị tạo khả năng cho sự phát triển của cá nhân và là cổ ho sự thị đôi của lịch sử và Weber đã xem xét đô thị như là một thiết chế xã hội. Trong công trình "Thánh phố lớn và cuộc sống tình thẫn” (Metropolis and memtal liƒc) xuất bản năm 1903, Georg Simmel đã chủ ÿ vào mô hình tương tác ở đô thị với tinh chất chức năng vả phi biểu cảm của các mỗi quan hệ và sự tiếp xúc ở đô thị, Cũng như Weber, Simmel cho rằng cả nhân trong đời sóng đồ thị không có bản sắc riêng (Trần Ngọc Khánh Vân, 2019).
Đô thị theo góc độ văn hóa có tác phẩm nỗi bật của tác giá Trần Ngọc Khánh. Theo tác giả, đô thị là sản phẩm do con người tạo lập. vừa lä môi trường sống biểu hiện các hoạt động, phương thức, lỗi sống của xã hội loài người đối với môi trường tự nhiên, xã hội vả nhân văn, đồng thởi đồ thị vận động theo quy luật tiến hóa giống như thể giới "tự nhiên” do nhu cầu, tác nhân và ước vọng của con người. Chính nhờ ba yếu tố nảy mà đô thị không chỉ là thành tố.
mẫu số chung về các hoạt động sáng tạo, biếu thị sự tăng trướng, tiến bộ xã hội, mà còn phụ thuộc phạm trù văn hóa, biểu trưng tỉnh phức hợp, toàn thẻ và tông hòa các giá trị văn minh. Ngảy nay, đỗ thị trên thực tế đã trở thành mỗi trường sống của toàn thể xã hội loài người, với hơn một nửa dân số thể giới. Con người ở bất kỳ thời đại nảo đều mong muốn cải thiện điều kiện sống và khung cảnh sống của mình. Đỏ lä các nhu cầu về đời sống vật chất và tình thần; là sự tăng trưởng về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trưởng, tức là toàn thể các phương điện của đời sống văn hóa.
Đô thị theo góc độ du lịch: Tại Úc đô thị có liên quan đến du lịch được ám chỉ là các "trưng tâm thành tÌ nơi có các khu đân cư chen chúc từ 1000 người trở lên 12 và mật độ dân cư phải tối thiéu 14 200 ngudi/ km?, khu vực có nhiều tiềm năng mới lạ có sức hút khách du lịch (Võ Quế, 2018). Tại Trung Quốc, đỏ thị du lịch gồm đô thị du lịch cổ gồm các kiến trúc, các đặc trưng vốn cỏ được hình thành và xây dựng qua nhiễu triều đại nhà nước phong kiến trước đời nhà Thanh, không phụ thuộc vào diện tích. quy mô dân số; đô thị du lịch hiện đại là một khu thành thị. thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người/kmẺ.
Đối với các khu thành thị có mật độ dân sé i 4 ácdh é di 4 tính là dan sé thành thi, day là khu vực có nhiễu điểm tài nguyên du lịch. khu dịch vụ và đang thu hút khách du lịch (Võ Quế, 2018).