Mở Đầu Chương 2 : Cơ sở lý luận quản lý giao thông Chương 3 : Phân tích tình hình phát triển mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố và thực trạng công tác quản lý. Chương 4 : Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn Thủ Dầu Một. Chương 5 : Kết luận và kiến nghị. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 10 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIAO THÔNG 2.1 Các khái niệm về phát triển quản lý giao thông đô thị 2.1 Khái niệm về giao thông đô thị - Giao thông là một phần nhân tố gần như quyết định đối với sự hình thành và phát triển đô thị.
Khi các phương tiện đường bộ chưa phát triển thì giao thông đường thủy đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển đô thị. Vì vậy các đô thị cổ xưa đều nằm ở những vị trí thuận lợi về giao thông đường thủy. - Ngày nay nhờ vào cách mạng khoa học kỹ thuật, nền công nghiệp phát triển, có rất nhiều phương tiện giao thông vận tải nhất là phương tiện vận tải đường bộ phát triển nhanh về chủng loại cũng như số lượng. Và hiện nay sự phát triển đô thị không thể tách rời sự phát triển của mạng lưới giao thông đường bộ.
- Mạng lưới giao thông đô thị có tác dụng nối liền tất cả các khu vực có chức năng khác nhau của đô thị thành một khối thông nhất. Thực tế chứng minh rằng nếu không có hệ thống giao thông đô thị tốt thì khó có thể thúc đẩy phát triển nhanh nền kinh tế, văn hóa, xã hội .1 Các khái niệm về phát triển quản lý giao thông đô thị 2.1 Khái niệm về giao thông đô thị Trong phương pháp quy hoạch chung của một đô thị thì người ta thường định hình trước bố cục không gian đô thị, và căn cứ vào điều kiện, tiềm năng cụ thể của từng địa bàn để phân định rõ chức năng của từng khu vực trong đô thị sau đó mới kết nối lại bằng hệ thống giao thông. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 11 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp Cụ thể là người ta thường xác định trước đâu là khu trung tâm, đâu là các khu dân cư, đâu là các khu công nghiệp, khu đầu mối giao thông, đâu là các đô thị vệ tinh… rồi sau đó mới tạo lập hệ thống giao thông nối kết chúng lại với nhau. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khi do mối quan hệ giao kết với các trục giao thông chính của khu vực hay của quốc gia mà những tuyến giao thông chính của đô thị được hình thành trước rồi sau đó các khu chức năng của đô thị dựa theo đó mà hình thành nên.
Thế nhưng, thông thường các ý tưởng về tổ chức không gian đô thị cũng đồng thời xuất hiện với các ý tưởng về việc hình thành bộ khung chính của hệ thống giao thông, đó là những trục đường chính của đô thị. Như vậy, là chỉ sau khi bố cục tổ chức không gian đô thị và hệ thống giao thông chính được xác định thì bộ xương cốt của đô thị coi như mới được hình thành và người ta mới có thể căn cứ vào đó để xác lập những quy hoạch trong phạm vi nhỏ hơn.2 Mạng lưới giao thông là trục chính của các đô thị lớn Mạng lưới giao thông chính của các đô thị lớn là các đường vành đai và các trục xuyên tâm. Mạng lưới này không chỉ có ý nghĩa về giao thông đơn thuần mà còn là đường ranh giới khống chế sự phát triển đô thị theo quy hoạch.1 Các mô hình phát triển đô thị.a Mô hình phát triển đô thị vệ tinh của Ebenezer howard: + Ý tưởng chủ đạo của mô hình: Thành phố vườn (đô thị vệ sinh) của Ebenezer howard đề cập đến vấn đề thay đổi cơ cấu tổ chức cũng như hướng giải quyết không gian của thành phố: HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 12 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp - Phân bố lại cư dân đô thị thành từng đơn vị thành phố vệ tinh được tập hợp xung quanh 1 thành phố trung tâm với quy mô khoảng 50. - Thành phố vườn là những thành phố vệ tinh có quy mô dân số 30.
- Thành phố được bao quang bởi các khu cây xanh và đất nông nghiệp. - Các đơn vị thành phố liên hệ với nhau bằng các tuyến đường sắt và các tuyến đường ô tô khác Hình 2.1 Mô hình phát triển đô thị vệ tinh Ebenezer Howard HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 13 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp + Giao thông đô thị: Hệ thống giao thông là vấn đề được đặc biệt chú trọng trong mô hình đô thị này.Giao thông kết nối đô thị được hình thành từ việc xác định cơ cấu chức năng và mối liên hệ tầng bậc giữa các đô thị vệ tinh với nhau và với thành phố trung tâm. Đường cao tốc vành đai nối các đô thị vệ tinh với nhau. Loại đường này có chức năng liên kết các đô thị vệ tinh với nhau, không cần phải thông qua trung tâm.
Đường đại lộ hướng tâm là trục đường nối kết thành phố trung tâm với các đô thị vệ tinh hoặc đi các khu vực khác.Trục đường này cần thiết quan tâm vấn đề cảnh quan, môi trường và quản lý lưu thông vì có ảnh hưởng rất lớn đến trung tâm đô thị.2 Bản đồ quy hoạch khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ- đô thị HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 14 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp + Ưu điểm của mô hình đô thị: Thể hiện sự phát triển cân đối của đô thị trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, dân cư phân bố đồng đều và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Đô thị vệ tinh là một ý tưởng hợp lý trong việc xây dựng một không gian sống chất lượng cao dựa trên nền tảng phát triển hệ thống giao thông hiện đại. Phân loại đô thị cũng như chức năng giao thông một cách rõ ràng. +Nhược điểm của mô hình đô thị: Hệ thống giao thông cứng nhắc, thiếu linh hoạt sẽ khó khăn cho việc áp dụng tổ chức phát triển không gian cho các đô thị mang tính đặc thù.Ngoài ra mô hình đô thị chưa đề cập đến việc phát triển các nút giao thông đối ngoại.
Các đô thị vệ tinh sẽ không có khả năng phát triển do tính chất đơn thuần của các đơn vị ở, môi trường sống thụ động dẫn đến điều kiện dịch vụ thấp. Quy mô đô thị nhỏ (<100.000 dân) khó tạo được sức bật cho đô thị, khó khăn trong việc phát triển khi dân số tăng cao do nảy sinh nhiều vấn đề quản lý phức tạp. Trong mô hình đô thị chưa thấy các chức năng của đô thị hiện đại như du lịch, khoa học kỹ thuật, tài chính – dịch vụ, công nghiệp… + Khả năng áp dụng: Việc áp dụng mô hình vào công tác quy hoạch – quản lý giao thông thành phố Thủ Dầu Một là có khả năng với việc hạn chế cũng như khắc phục các nhược điểm đã nêu. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 15 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp Đô thị Thủ Dầu Một có chức năng trung tấm của cụm đô thị vệ tinh trong tương lai và có quan hệ mật thiết với các thành phố lớn khác trong đại lộ đô thị phía Nam.
* Các đô thị vệ tinh: - Đô thị Thuận An: cửa ngõ TP. Hồ Chí Minh, phát triển dịch vụ - du lịch - Đô thị Dĩ An: nằm trong tam giác (Bình Dương – Thủ Đức – Đồng Nai), phát triển công nghiệp. - Đô thị mới Tân Định An – Phú Chánh (Khu liên hợp Công nghiệp – Dịch vụ - Đô thị): trung tâm thứ 2 với mục giảm tải cho đô thị Thủ Dầu Một. - Đô thị Bến Cát: trung tâm là thị trấn Mỹ Phước, phát triển công nghiệp và khu dân cư.
- Đô thị Tân Uyên: trung tâm là thị trấn Uyên Hưng, tập trung phát triển công nghiệp, lâm nghiệp và khu dân cư. Ngoài ra mối liên hệ với trung tâm của các đô thị trong khu vực như: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Xoài (Bình Phước)… là rất thuận tiện trên cơ sở phát triển hệ thống giao thông đối ngoại. Chức năng dịch vụ - tài chính sẽ là động lực chính phát triển đô thị.
HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 16 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp Hình 2.3 Sơ đồ quy hoạch đô thị vệ tinh quanh Trung Tâm Thủ Dầu Một 2.b Lý luận về cấu trúc đơn vị ở láng giềng của Clarence Pery: + Ý tưởng chủ đạo của mô hình: - Quan điểm mới về hình thức tổ chức không gian đô thị dựa trên những trục diao thông huyết mạch của đô thị, thường là các đường chính xuyên đô thị hoặc bao bọc đô thị, chia không gian đô thị thành nhiều mảng, gọi là Đơn vị ở, có các đặc tính: - Nằm giữa các trục giao thông chính của đô thị, bên trong được tổ chức hệ thống giao thông đường bộ nhỏ hẹp hơn - Các trục lộ chính không đi xuyên qua Đơn vị ở mà sẽ đóng vai trò là đường bao, có các trục đường đấu nối với hệ thống giao thông nội bộ. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn – Lớp Kỹ Thuật Hạ Tầng Đô Thị K19 Trang 17 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật GVHD: PGS.TS Trần Tuấn Hiệp Hình 2.4 Mặt bằng của một khu quy hoạch - Trong Đơn vị ở, các trường phổ thông trung học. Trung tâm thương mại, công viên cây xanh được bố trí tại các điểm tiếp giáp các Đơn vị ở. - Đơn vị ở chứa đầy đủ các chức năng và thành phần công trình công cộng phục vụ cho cư dân đô thị bên trong.
+ Đặc điểm của mô hình: Đô thị với mô hình phát triển cấu trúc chặt chẽ một cách tự nhiên, giúp tái thiết đô thị một cách dễ dàng. Tính tầng bậc đã được thể hiện tương đối rõ ràng giúp quá trình quản lý thuận tiện. - Các phương tiện giao thông công cộng có thể tiếp cận với các Đơn vị ở từ các đường bao, phương tiện cá nhân sẽ đảm nhận nhiệm vụ lưu thông nội bộ.