Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc Chương 4: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2022 – 2025 định hướng 2030 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.
Khái niệm cơ cấu kinh tế Thuật ngữ “cơ cấu” hay “cấu trúc” có nguồn gốc ban đầu từ chữ latinh “Structure”. Ban đầu “cơ cấu” được sử dụng trong kiến trúc, trong sinh vật học, dùng để chỉ cách tổ chức, điều chỉnh các tế bào động, thực vật. Sau đó, khái niệm cơ cấu được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Vậy cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó.
Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, khi nghiên cứu về cơ cấu của một đối tượng nào cần phải tiếp cận một cách có hệ thống đối với nó. (Nguyễn Huy Cường, 2009) Cơ cấu là thuộc tính mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng có. Đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem xét nó là một hệ thống phức tạp, có thể thấy rất nhiều bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng.
Cơ cấu kinh tế phản ánh tính chất, trình độ, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong của một nền kinh tế. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ không chỉ về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố hợp thành - biểu hiện sự tăng trưởng của hệ thống mà còn là những mối quan hệ cơ cấu về chất giữa các yếu tố - biểu hiện sự phát triển của hệ thống. Do vậy, cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội (Lương Minh Cừ và cộng sự, 2012). 7 Dưới góc độ Kinh tế học phát triển, cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất trong quá trình phát triển. Đánh giá sự phát triển kinh tế cần xem xét một cách toàn diện việc hình thành và chuyển dịch của các loại hình cơ cấu kinh tế (Lương Minh Cừ và cộng sự, 2012).
Từ những phân tích trên, cơ cấu kinh tế có thể hiểu là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế. Trong quá trình vận động của nền kinh tế, chúng có quan hệ tương tác lẫn nhau về số lượng, tỷ trọng và những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Nó luôn biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện và việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình nhất định.
Một cơ cấu kinh tế như thế nào, xu thế chuyển dịch của nó ra sao phụ thuộc vào những điều kiện khách quan về tự nhiên, kinh tế, xã hội và thể chế chính trị nhất định. Tương ứng với những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định, tất yếu có một cơ cấu kinh tế phù hợp (Nguyễn Thị Như Trang, 2017). Cơ cấu kinh tế ngành Dựa vào những đặc trưng của các bộ phận cấu thành hệ thống và cách thức chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, có thể chia cơ cấu kinh tế thành cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế. Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, còn cơ cấu thành phần kinh tế hình thành dựa trên chế độ sở hữu.
Ba kiểu cơ cấu này là những nội dung quan trọng phản ánh tập trung trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vai trò quyết định trong cơ cấu kinh tế vì nó được phát triển theo quan hệ cung - cầu, theo tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, nó đảm bảo sản xuất theo nhu cầu thị trường (Vũ Thị Mỵ (2015). Cơ cấu kinh tế ngành là tổng thể hợp thành các ngành của nền kinh tế quốc dân trong mối quan hệ hữu cơ tương tác lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Cơ cấu ngành phần nào phản ánh trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành kinh tế là nét đặc trưng của các nước đang phát triển.
Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính: Một là, nhóm ngành nông nghiệp. Trong nông nghiệp gồm 3 ngành nhỏ là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Hai là, nhóm ngành công nghiệp, bao gồm công nghiệp và xây dựng. Ba là, nhóm ngành dịch vụ gồm ngành thương mại, bưu điện và dịch vụ.
Trong quá trình hoạt động sản xuất, các ngành có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Với các nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp tương tự như Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp 9 thường ở mức cao, từ 20 - 40% GDP. Trong khi đó ở các nước phát triển, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP chỉ chiếm từ 1 - 7% (Nguyễn Thị Huyền Trang, 2016). Trong quá trình phát triển, cơ cấu kinh tế ngành của mỗi quốc gia đều có sự chuyển đổi theo xu hướng chung là tỷ trọng nông nghiệp giảm, còn tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng đều được hiểu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự vận động, phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian và không gian, dưới tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội nhất định của trong nước và quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tầm vĩ mô là một quá trình, trong đó bản thân các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và từng phân ngành của chúng vận động, phát triển dẫn đến sự thay đổi tương quan tỷ lệ giữa các ngành đã hình thành trước đó, cũng như mối quan hệ vốn đã tương đối ổn định của chúng. Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về mặt lượng và mặt chất trong nội bộ cơ cấu. Để xem xét số lượng các ngành tạo nên nền kinh tế và chất lượng mối quan hệ giữa chúng với nhau ra sao, người ta thường chia nền kinh tế thành các nhóm ngành để quan sát (Phạm Thị Khanh và cộng sự, 2010).
Nội dung và ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu kinh tế * Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm. Trong nội bộ ngành: + Trong ngành nông nghiệp: Giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi. + Trong công nghiệp: Tập trung công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp chế tạo cơ khí, điện tử 10 + Trong ngành dịch vụ: Đẩy mạnh lĩnh vực dịch vụ vận tải và du lịch (Nguyễn Thị Huyền Trang, 2016). * Ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế Nhìn dưới góc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế quá trình chuyển dịch cơ cấu là quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế.
Ngược lại, trình độ phát triển và tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với sự phát triển chung của nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ gắn với nó là sự phân bố các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những hoạt động sản xuất - kinh doanh riêng. Sự chuyển dịch cơ cấu thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành thể hiện được các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia thực hiện hội nhập có kết quả (Lương Minh Cừ và cộng sự, 2012).