Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ cấu kinh tế Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm “cơ cấu kinh tế. Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu là một phạm trù triết học được dùng để phản ánh cấu trúc bên trong, những tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận của một hệ thống hoặc của một đối tượng.
Cơ cấu được hiểu như một tập hợp những quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành của đối tượng xem xét. Từ khái niệm “cơ cấu” vận dụng vào đối tượng là nền kinh tế quốc dân của một quốc gia, ta có được thuật ngữ “cơ cấu kinh tế”, đã có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ này, cụ thể: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định giữa chúng hợp thành trong một khoảng thời gian nhất định”[14,8] Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lênin: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí tương quan và quan hệ tương tác phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân”[13;75] Theo quan điểm của C.Mác, CCKT của một xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình sản xuất nhất định của lực lượng sản xuất vật chất, cơ cấu là một sự phân chia về chất và tỷ lệ số lượng của những quá trình sản xuất xã hội.Mác cho rằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy cũng hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội”[1;6] 6 Từ những quan niệm về CCKT nói trên có thể hiểu khái quát:Cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế biểu hiện cấu trúc bên trong của nền kinh tế, là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất và lượng tương đối ổn định của các yếu tố do các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên một vùng lãnh thổ, về mặt nội dung cơ cấu kinh tế là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành, bao gồm: + Cơ cấu kinh tế ngành: là cơ cấu kinh tế quan trọng nhất, là tổ hợp các ngành của nền kinh tế.
Nó biểu thị quan hệ giữa các ngành kinh tế, những tổng thể đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội theo ngành để sản xuất ra những sản phẩm hoặc những dịch vụ có đặc tính chung nhất định. Sự phát triển các ngành kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, do sự phát triển của phân công lao động xã hội quyết định. + Cơ cấu thành phần kinh tế: là cơ cấu sở hữu của nền kinh tế. Có thể nói, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của nền kinh tế.
Nếu CCKTN trực tiếp do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội quyết định, thì cơ cấu thành phần kinh tế trực tiếp do bản chất của quan hệ sản xuất mà trước hết là quan hệ sở hữu quyết định. + Cơ cấu vùng (hay lãnh thổ) kinh tế: là sự bố trí vùng, lãnh thổ của nền kinh tế. Cơ cấu vùng kinh tế theo lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lý. Cơ cấu này do điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên quyết định.
Ở mỗi vùng, lãnh thổ được bố trí các ngành sản xuất khác nhau theo một tỷ lệ thích ứng để khai thác triệt để các ưu thế, đặc thù của từng vùng, đồng thời để hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gialuôn có xu hướng thay đổiphù hợp với nhu cầu thực tế. CCKT thay đổi cả mặt lượng cũng như mặt chất sẽ luôn vận động, chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển, và đó cũng chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả của CDCCKT quyết định đến sự phát triển kinh tế của mỗi 7 quốc gia về cả chiều rộng và chiều sâu.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự chuyển dịch từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với phân công lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của các điều kiện về kinh tế xã hội phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế nhất định. Thực chất quá trình này là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu, lỗi thời hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới hoàn thiện và phát triển hơn. Quá trình nghiên cứu và thực tiễn dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa về CDCCKT, cụ thể: Theo H. Chenery CDCCKT là: “Thay đổi cơ cấu bao gồm sự tích lũy vốn vật chất và con người và sự thay đổi về nhu cầu, sản xuất, buôn bán, việc làm.
Ngoài ra, còn có sự thay đổi về các quá trình KT-XH kèm theo như thay đổi dân số, thay đổi về phân phối thu nhập”. [13;7-8] Khái niệm “chuyển dịch cơ cấu kinh tế”: CDCCKT là sự biến đổi CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác trong một thời kỳ nhất định trên cơ sở phù hợp với điều kiện khách quan và chủ quan, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển. Có cách tiếp cận khác cho rằng, CDCCKT là quá trình thay đổi các quan hệ tỷ lệ về lượng và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Như vậy, có thể nói CDCCKT là quá trình cải biến KT-XH từ lạc hậu; tự cấp tự túc lên nền kinh tế phát triển cao, hợp lý, được trang bị cơ sở vật chất và kỹ thuật hiện đại.
Từ đó, tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả cao, nhịp độ tăng trưởng nhanh. CDCCKT bao gồm CDCCKT theo ngành, theo vùng lãnh thổ, theo thành phần kinh tế và trong đó quan trọng hơn cả là chuyển dịch kinh tế theo ngành. Thực chất của CDCCKT là sự biến đổi, vận động, phát triển giữa các ngành kinh tế. Ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành có tốc độ thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng.
Nếu tất cả các ngành có cùng một tốc độ tăng trưởng thì tỷ trọng các ngành sẻ không đổi, nghĩa là sẽ không có sự chuyển dịch cơ cấu ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình phát triển của các ngành kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành 8 và làm thay đổi mối quan hệ tương tác giữa chúng so với một thời điểm trước đó mà thường là so với năm trước. Đây là kết quả của quá trình phát triển vừa chịu tác động của các yếu tố chủ quan lẫn khách quan của mỗi nền kinh tế. Có thể nói, CDCCKT nông nghiệp là một quá trình lâu dài, cần có thời gian thực hiện và rút kinh nghiệm.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, CDCCKT nông nghiệp là sự biến đổi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế đòi hỏiCDCCKT nông nghiệp không chỉ là sự thay đổi cơ cấu đã có trong khoảng thời gian ngắn, mà là quá trình thay đổi một cơ cấu kinh tế khép kín sang mở cửa, hội nhập. Để thực hiện được quá trình này cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, nhất quyết thực hiện các quan điểm sau: - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phải gắn với khai thác triệt để các lợi thế so sánh của đất nước, của từng vùng, địa phương. Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, xã hội và từng địa phương lại có những lợi thế riêng.
Cần đánh giá khách quan, có cơ sở khoa học những lợi thế so sánh của đất nước, của từng vùng, địa phương trong quá trình phát triển các ngành để vận dụng quan điểm này vào quá trình CDCCKT nông nghiệp. Khai thác lợi thế so sánh trong CDCCKT tạo điều kiện cho sự hình thành các sản phẩm, các ngành mũi nhọn mà đất nước, địa phương có tiềm năng phát triển, từ đó hình thành các cụm sản xuất tập trung, đầu tư về quy mô, có tính chuyên môn hóa cao. Tuy nhiên, để có hiệu quả trong quá trình khai thác các lợi thế đó còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, cần khẳng định rằng ngoài tập trung sản xuất những sản phẩm có sẵn của địa phương thì phải luôn hướng theo nhu cầu thị trường để đảm bảo khai thác lợi thế so sánh trong chuyển dịch cơ cấu một cách tốt nhất.
Vì vậy, vận dụng quan điểm này vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ từ phía Trung ương đến các ngành, địa phương. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phải đảm bảo nâng cao hiệu quảkinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là quan điểm chi phối toàn bộ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm định hướng cho nông dân cần biết lựa chọn sản phẩm (sản xuất cái gì, 9 lựa chọn các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ) sao cho có lợi nhất. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu không chỉ xem xét hiệu quả kinh tế một cách đơn thuần mà còn xem xét hiệu quả xã hội.
Nâng cao hiệu quả xã hội trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thể hiện việc lựa chọn ngành nghề có khả năng thu hút lao động, khuyến khích làm giàu, nhưng phải gắn với chương trình xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội và giữ gìn bản sắc dân tộc.