đặt vấn đề kiểu truyền thống lâu nay (Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ) và phân tích cách thức kết hợp giữa chúng (xem hình 1.1) chưa làm nổi bật “hạt nhân” liên kết giữa ba khu vực để tạo nên sự thống nhất cần thiết của một nền kinh tế. Vai trò hạt nhân đó được thực hiện bới các chuỗi giá trị sản xuất và các Tổ hợp sản xuất lãnh thổ. Học giả này coi nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ như là các phân hệ nhưng đến lượt nó thì mỗi lĩnh vực lại là một hệ thống có tính “hoàn chỉnh tương đối”. Các khối ngành, lĩnh vực liên kết chặt chẽ với nhau theo cả chiều kỹ thuật công nghệ và chiều kinh tế và phân bố tập trung tại một không gian nhất định mà ở đó hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu phát triển của tất cả các lĩnh vực (doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau).
Nói một cách cụ thể hơn, các chuỗi giá trị (khoa học- sản xuất - tiêu thụ) và các Tổ hợp sản xuất lãnh thổ đa ngành (Tổ hợp sản xuất đa ngành) giữ vai trò liên kết ấy đối với ba khu vực của nền kinh tế cũng như đối với nội bộ mỗi ngành, lĩnh vực. Học giả Ngô Doãn Vịnh còn cho rằng, theo nguyên tắc của tiến trình phát triển phân công lao động xã hội, nông nghiệp luôn giữ vị trí quan trọng bởi nó không chỉ cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp mà nó còn tạo ra tiền đề phát triển dịch vụ thông qua đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và tham gia vào quá trình đổi mới phân công lao động xã hội. Đây là quan điểm rất đáng quan tâm và sẽ được tác giả luận án chú ý khi nghiên cứu phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa.1: Quan hệ tƣơng tác giữa ba khối ngành trong nền kinh tế Nguồn: [56] 16 Các học giả Phạm Chí Thành [38], Bùi Tất Thắng [40] Nguyễn Quang Thái 39 đều nhấn mạnh phát triển bền vững. Trong khi đề cập đến phát triển bền vững như một tất yếu khách quan, họ rất coi trọng phát triển ngành, trong đó nhất là nông lâm thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Học giả Ngô Thúy Quỳnh [37] lại đặc biệt coi trọng tổ chức lãnh thổ kinh tế mà trong đó bà có đề cập tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp (mà hình thức tiêu biểu là Khu nông nghiệp công nghệ cao và Tổ hợp nông - công nghiệp). Học giả này đề xuất phải phát triển mạnh các Tổ hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở phát triển vùng nguyên liệu gắn với nhà máy công nghiệp chế biến. Đồng thời, cũng theo học giả này thì việc phát triển các Khu nông nghiệp công nghệ cao dựa trên tinh thần xuyên suốt của Cluster (có người gọi là cụm liên kết đa ngành) là hướng phát triển sẽ đem lại hiệu quả cao đối với sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Báo cáo đề tài khoa học của Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội [62] về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng giá trị cao, bền vững và kinh tế xanh cho rằng, nông nghiệp là một hệ thống kinh tế phức tạp, vận động không ngừng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Trên thế giới người dân đã được hưởng những nông sản chất lượng cao và giá thành chấp nhận được. Đó là kết quả của toàn cầu hóa và tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Các nhà khoa học của Viện này cho rằng, nông nghiệp là hệ thống kinh tế nhưng không độc lập mà nó gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến và mạng phân phối. Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội lấy yếu tố thị trường và yếu tố công nghệ làm nền tảng để thịnh vượng, trên vùng trung du miền núi thuộc Ba Vì, Sơn Tây, Quốc Oai.
người nông dân đã tập trung vào chăn nuôi bò sữa, trồng hoa và trồng các loại rau cao cấp phục vụ đô thị và du khách tới Hà Nội du lịch (mỗi năm khoảng 8-10 triệu lượt du khách tới Hà Nội). Đây là ý kiến hay mà tác giả luận án rất quan tâm. Hội thảo khoa học giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2008 [32] về “Phát triển khoa học, hài hòa trong xây dựng kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa” đã đề cập tới cả lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ cấu kinh tế, nhất là đổi mới sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đồng thời họ nhấn mạnh yêu cầu từ chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường 17 hướng tới những diều tiến bộ của xã hội chủ nghĩa (công bằng, bình đẳng và phúc lợi).
Trong kỷ yếu của Hội thảo một số người đã phân tích khá sâu sắc về vai trò của nông nghiệp trong quá trình phát triển ở Việt Nam. Theo họ ở Việt Nam dân số sống ở nông thôn rất đông (khoảng 65% dân số cả nước - dù con số này đã thay đổi nhưng ý tứ mà họ nói tới vẫn rất đáng quan tâm) và cuộc sống của những người này phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp rất lớn trong khi diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người không nhiều. Vì thế, phát triển hiệu quả, bền vững nông nghiệp là đòi hỏi tất yếu và là con đường làm giàu cho nông dân của Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh, vấn đề phát triển hài hòa giữa các ngành, các vùng, các địa phương sẽ đảm bảo phát triển hiệu quả cho nền kinh tế.
Đối với Việt Nam và Trung Quốc phát triển nông nghiệp hàng hóa có tính tới yêu cầu toàn cầu hóa là điều cần thiết và có thể nói là bắt buộc trong hoạch định đường lối và thực hiện phát triển. Ngô Thắng Lợi [39], Nguyễn Văn Nam 26 , Đỗ Hoài Nam [25], Nguyễn Đức Tài [42] và Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường 61 đều nhấn mạnh chất lượng phát triển và đặc biệt coi trọng sự phát triển nền nông nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Nói cách khác, rất cần công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Học giả Trần Văn Chử [9] trong cuốn Giáo trình kinh tế học phát triển đặc biệt nhấn mạnh vai trò to lớn của nông nghiệp trong đời sống xã hội loài người.
Theo ông, kinh tế học nhất thiết phải coi trọng kinh tế nông nghiệp và hiệu quả nông nghiệp. Trên thế giới có hàng tỷ người sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Một nền nông nghiệp dựa trên công nghệ cao và đa dạng sẽ đem lại ít rủi ro hơn cho người sản xuất. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình [65] ngay từ năm 2012 đã ra Quyết định số 1263/QĐ-UBND (ngày 13/9/2012) phê duyệt quy hoạch vùng và khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020.
Theo đó trên địa bàn tỉnh Hòa Bình sẽ phát triển 11 khu, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (chuyên trồng cây ăn quả, chăn nuôi bò thịt và bò sữa, trồng hoa cây cảnh.) tại các huyện: Lương Sơn, Tân Lạc, Kỳ Sơn, Lạc Thủy, Kim Bôi, Mai Châu, Cao Phong, Lạc Sơn, Yên Thủy. Đây là trường hợp có thể tham khảo cho việc nghiên cứu phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở vùng miền núi tỉnh Thanh Hóa. 18 Học giả Nguyễn Trọng Thừa [49] với công trình nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở Hải Dương đã đặc biệt nhấn mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững; lấy hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp làm tiêu chí quan trọng. Nguyễn Phú Trọng 50 đề nghị phải đổi mới tư duy phát triển đối với tất cả các ngành, lĩnh vực, theo ông đặc biệt phải đổi mới tư duy đối với phát triển nông nghiệp để làm giàu cho người nông dân và trước mắt là để xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn.
Ông nhấn mạnh phải thực thi “Tam nông: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân” trong quá trình đổi mới phát triển nông nghiệp. Học giả Nguyễn Thanh Hải [16] khi nghiên cứu vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đã cho biết, Trung du miền núi Bắc Bộ có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, kết cấu hạ tầng yếu kém, dân cư phân tán và dân trí thấp; công nghiệp khai khoáng giữ vai trò chủ lực và đã xuất hiện từ lâu nhưng nhìn chung chưa có sự phát triển công nghiệp và dịch vụ mà chủ yếu vẫn tiểu biểu là sự phát triển của nông lâm nghiệp. Dường như nền kinh tế của vùng này phát triển theo chiều rộng vẫn là chính. Hệ thống sản xuất chè, cây dược liệu, rừng nguyên liệu.
đã xuất hiện từ rất lâu. Trong khi diện tích đất nông nghiệp đã ít lại phân tán, chỉ có khoảng 1,5 triệu ha thì đất lâm nghiệp có tới 5,7 triệu ha (là vùng có diện tích lâm nghiệp lớn nhất so các vùng khác trong cả nước). Nguồn nước và tiềm năng thủy điện dồi dào nhưng về mùa mưa hay bị lũ quét. Học giả này còn cho rằng, hệ sinh thái nông lâm nghiệp ở vùng Trung du miền núi Bắc Bộ rất đa dạng và phức tạp, vừa phân dị (vùng chia ra ba tiểu vùng: Tây Bắc, Vùng giữa và Đông Bắc và có nhiều tiểu vùng khí hậu đặc biệt như Mộc Châu, Sa Pa, Mẫu Sơn.) lại vừa có những điểm giống nhau và hết sức phân tán nên việc tổ chức sản xuất gặp nhiều khó khăn.
Học giả Nguyễn Phú Trọng [50] khi bàn về đổi mới và phát triển ở Việt Nam đã nhấn mạnh hai vấn đề lớn. Thứ nhất, mô hình tổng quát phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yếu tố phát triển để nâng cao đời sống nhân dân, đòi hỏi công bằng, bình đẳng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem như những yêu cầu của định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn gắn với tam nông (Nông nghiệp, nông dân và nông thôn) phải được tính đến một cách thỏa đáng. Học giả Nguyễn Đức Tài [42] cho biết ở nước ta cần đổi mới tư duy phát triển.
Ông cho rằng không chỉ chú trọng phát triển công nghiệp mà phải chú ý phát triển 19 thỏa đáng nông nghiệp và nông thôn. Đồng thời, đưa công nghiệp về nông thôn để thúc đẩy phát triển nông nghiệp là điều rất cần thiết. ) C ng tr nh nước ngoài Học giả Mellor J.