ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì dựa trên các quy luật khách quan của tự nhiên với mục đích thoả mãn nhu cầu trên nhiều mặt của mình, đặc biệt là cung cấp lương thực và thực phẩm cho con người. Đó là một hệ sinh thái tương đối đơn giản về thành phần và đồng nhất về cấu trúc, cho nên nó kém bền vững, dễ bị phá vỡ. Hệ sinh thái nông nghiệp cũng có những thành phần điển hình của một hệ sinh thái như sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân huỷ và môi trường vô sinh. Tuy nhiên, với mục đích hàng đầu là tạo ra năng suất kinh tế nên đối tượng chính của các hệ sinh thái nông nghiệp là các thành phần cây trồng và vật nuôi.
Ngày nay, dưới áp lực của gia tăng dân số, kéo theo đó là nhu cầu lương thực gia tăng đã tác động mạnh đến các hệ sinh thái nông nghiệp. Việc sử dụng quá mức các hoá chất bảo vệ thực vật, phân hoá học, phương pháp thâm canh không phù hợp, quy hoạch sử dụng đất không hợp lý. và các tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu đang khiến cho các hệ sinh thái nông nghiệp ngày càng suy thoái. Nam Định là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình có thể chia làm ba phần: vùng đồng bằng thấp trũng có điều kiện thuận lợi cho thâm canh phát triển nông nghiệp; vùng đồng bằng ven biển với 72km đường bờ biển có đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho chăn nuôi, đánh bắt thuỷ hải sản và phát triển kinh tế tổng hợp ven biển; vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ.
Tuy nhiên, hàng năm Nam Định cũng chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan, gây bất lợi không nhỏ tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của người dân, đặc biệt là dân cư vùng ven biển. Xác định tiềm năng của các hệ sinh thái nông nghiệp, dự báo những nguy cơ phải đối mặt trong bối cảnh những diễn biến khó lường và sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu đóng một vai trò quan trọng trong việc lập quy hoạch khai thác và phát triển các hệ sinh thái nông nghiệp một cách bền vững. Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái nông nghiệp tỉnh Nam Định". GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Hiện nay, dưới các tác động của các yếu tố như sự gia tăng dân số, đô thị hóa, sự phát triển sản xuất công nghiệp, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, hoạt động sản xuất của người nông dân có những thay đổi không nhỏ, ảnh hưởng trực tiếp tới các hệ sinh thái nông nghiệp.
Những vấn đề này nếu không được quản lý chặt chẽ và có quy hoạch dài hạn sẽ là những mối đe dọa không nhỏ làm suy giảm hiệu quả và diện tích các hệ sinh thái nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, làm mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững trong nền kinh tế của địa phương. Các giả thuyết chính đặt ra trong đề tài này là như sau: - Hệ sinh thái nông nghiệp phân bổ có tính quy luật và có thể phân loại và xác định dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuất nông nghiệp để chỉ ra những lợi thế và khó khăn trong quản lý khai thác sử dụng. - Những biến động của hệ sinh thái nông nghiệp gần đây diễn ra do các nguyên nhân kinh tế - xã hội (lao động, chính sách, quản lý sản xuất) và tự nhiên (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu). Trong đó, biến đổi khí hậu là một nguyên nhân tác động làm thay đổi lâu dài đối với các hệ sinh thái nông nghiệp.
- Người dân địa phương đã áp dụng những biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa theo kinh nghiệm, tự phát nhưng một số biện pháp cũng nằm trong kế hoạch của chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ địa phương có thể tổng hợp để thành giải pháp có tính hệ thống để phát triển các hệ sinh thái nông nghiệp theo hướng bền vững hơn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu đặc điểm của các hệ sinh thái nông nghiệp để đánh giá hiện trạng phân bố, tiềm năng sử dụng và những trở ngại của chúng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Qua đó tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy hoạch phát triển nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ tác động của thiên tai và khai thác các hệ sinh thái nông nghiệp một cách hiệu quả, phục vụ phát triển bền vững.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn tỉnh Nam Định trong vòng 5 năm trở lại (từ 2012 tới 2017) và hiệu quả sản xuất trong phạm vi thời gian từ năm 2016 đến 2017. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA THỰC TIỄN Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới sự thay đổi các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người nông dân, qua đó tác động tới sự biến động các hệ sinh thái nông nghiệp trên địa bàn. Các kết quả nghiên cứu sẽ là một trong những cơ sở cho chính quyền địa phương trong việc đưa ra các chính sách, quy hoạch tổng thể để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, giữ gìn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
TỔNG QUAN VỀ HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP 2. Các khái niệm Sinh thái, hiểu một cách đơn giản là trạng thái sống, dạng sống, kiểu sống. Nó là môn khoa học về quan hệ của sinh vật hoặc nhóm sinh vật với môi trường xung quanh. Sinh thái môi trường nông thôn được hiểu là một thành phần của môi trường tự nhiên, trong đó được cấu thành bởi các yếu tố vật chất hạ tầng (nhà cửa, vườn tược, ruộng đồng, đường giao thông,.), các phương tiện (công cụ máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp), trong đó trọng tâm là nông dân và công nhân sản xuất nông nghiệp với những hoạt động sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn.
Các yếu tố trên được quan hệ với nhau bằng dây chuyền thực phẩm và dòng năng lượng. Ngoài hoạt động sản xuất còn có những hoạt động văn hóa xã hội, tập quán, tình cảm xóm làng của người nông dân. Hệ sinh thái nông nghiệp là một tổng thể bao gồm môi trường và những quần thể sinh vật (cây trồng, vật nuôi, cây rừng), các sinh vật gây hại (sâu, bệnh, chuột, cỏ dại, sinh vật gây bệnh cho vật nuôi, vv.), các sinh vật có ích, đất, nước, khí hậu, con người, môi trường này được hình thành và biến đổi đều do hoạt động của con người. Như vậy, có thể nói HSTNN là một hệ sinh thái gắn liền với sự phát triển của con người, hệ sinh thái này vừa cung cấp sản phẩm nuôi sống con người, vừa cung cấp những chức năng sinh thái học cơ bản đảm bảo sự vận hành liên tục của chu kỳ vật chất, giữ vững cân bằng sinh thái môi trường.
Trong các loại hệ sinh thái, HSTNN được xem là có vai trò quan trọng hàng đầu đối với tất cả các cộng đồng dân cư trên thế giới (Altieri, 1995), chính vì thế, các nghiên cứu liên quan đến đánh giá, phân loại, phân vùng và ứng dụng của HST này được giới khoa học và các tổ chức Quốc tế quan tâm, nghiên cứu từ nhiều năm trước. Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến điều tra, đánh giá các HSTNN đã được tiến hành với các quy mô khác nhau. Chương trình cấp nhà nước do giáo sư Cao Liêm làm chủ trì về phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng là một điển hình (Cao Liêm, 1990). Thành phần và cấu trúc của hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái tương đối đơn giản về thành phần và thường đồng nhất về cấu trúc, cho nên khó bền vững và dễ bị phá vỡ, hay nói cách khác, hệ sinh thái nông nghiệp là những hệ sinh thái không khép kín trong chu trình chu chuyển vật chất (Phạm Văn Phê, 2006).
Các hệ sinh thái nông nghiệp được duy trì hoạt động dưới sự tác động thường xuyên của con người, nếu không, qua diễn thế nó sẽ quay về trạng thái hợp lý của nó trong tự nhiên. Hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm 2 thành phần cơ bản của một hệ sinh thái là sinh vật (sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ & sinh vật phân hủy) và môi trường vô sinh bao gồm các chất hữu cơ, các chất vô cơ và yếu tố khí hậu (Lê Văn Khoa, 2001). Vai trò chính của HSTNN là tạo ra năng suất kinh tế phục vụ nhu cầu của con người, đối tượng chính của hệ sinh thái nông nghiệp là các thành phần cây trồng và vật nuôi. Năng suất sinh vật (rễ, thân , lá, quả…) tạo nên năng suất kinh tế của ruộng vườn là mục đích hoạt động chủ yếu của con người, tuy nhiên năng suất này lại phụ thuộc vào hệ thống các nhân tố vô sinh như thời tiết - khí hậu (bức xạ mặt trời, nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ không khí, gió, lượng khí O2, CO2…) và các yếu tố vô cơ khác; các nhân tố hữu sinh như đất, nước, bao hàm các chất hữu cơ, động vật và hệ vi sinh vật trong đất; các yếu tố quần thể sinh vật bao gồm cây trồng, vật nuôi, các loài cỏ dại, côn trùng, nấm bệnh…; và hệ thống các biện pháp kỹ thuật canh tác từ giống, làm đất, gieo trồng, chăm sóc, bón phân, phòng chống và diệt trừ sâu bệnh hại, đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm trên từng hệ sinh thái nông nghiệp đó.
Đầu vào: Cây trồng Vật Đầu ra: - Vật tư Nông nuôi - Lương thực nghiệp - Thực phẩm - Giống - Cảnh quan - Phân bón MT - Thuốc trừ sâu - Lao động Đất đai Hệ thống quản lý Hình 2. Chu trình của hệ sinh thái nông nghiệp Nguồn: Phạm Văn Phê (2006) 5 Vì là một hệ thống sống nên luôn có sự tương tác nhân quả, bất kỳ một sự thay đổi từ một thành phần nào cũng dẫn tới sự thay đổi ở các thành phần khác. Cấu trúc của hệ sinh thái nông nghiệp được xây dựng dựa trên mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của nó.