CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP SỞ. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu sách, báo, luận án, luận văn xoay quanh vấn đề này thể hiện với nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau như: - Giáo trình: Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức – Nxb Giáo dục năm 2009, do: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Tấn Thịnh chủ biên, giáo trình dành một chương nói về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
- Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (2004), Quản lý nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà XB Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của đề tài KX.11 thuộc chương trình Khoa học Công nghệ cấp nhà nước KX.05 (giai đoạn 2001-2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị thiết thực trong quản lý nhân lực của Việt Nam. - Lê Minh Huệ (2012), Quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2012.
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực và vận dụng để phân tích tình hình quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. Trên cơ sở những ưu nhược điểm được phát hiện, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật trong thời gian tới. 6 z TS Nguyễn Hữu Thân (2008), Quản trị nhân sự, NXB Lao động - Xã hội. Đây cũng là một tài liệu tham khảo giúp cho các doanh nhân, nhất là các giám đốc nhân sự hoặc trưởng phòng nhân viên củng cố và tăng cường khả năng quản trị nhân sự của mình.
Trần Kim Dung (2015), Quản trị nguồn nhân lực, NXB tổng hợp Tp. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, kinh nghiệm tiên tiến thế giới và thực trạng quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam, cuốn sách được thiết kế nhằm giới thiệu các kiến thức, tư tưởng và kỹ năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Các công trình nghiên cứu khoa học trên là sự tổng hợp tri thức, kinh nghiệm quý giá trong và ngoài nước, hình thành hệ thống lý luận tương đối toàn diện và những bài học có giá trị thực tiễn cao về quản lý nhân lực trong hệ thống cơ quan hành chính. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để tác giả tham khảo, chọn lọc, vận dụng một cách phù hợp trong quá trình thực hiện đề tài.
Tuy nhiên, một số công trình thực hiện từ giai đoạn trước, đến nay có những quan điểm hoặc bài học kinh nghiệm đã không còn phù hợp. Mặt khác, các công trình trên có không gian, thời gian nghiên cứu rộng, trong khi phạm vi nghiên cứu của đề tài được thu hẹp hơn có đặc điểm, đặc thù riêng biệt. Vì vây đề tài “ Quản lý nhân lực tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ” sẽ là một nghiên cứu cụ thể, có thể áp dụng hiệu quả trong thực tiễn tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ. Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực tại cơ quan nhà nước cấp Sở: 1.
Các khái niệm cơ bản: * Khái niệm nhân lực: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhân lực là sức người dùng trong lao động, sản xuất. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực Trường Đại học Kinh tế Quốc dân của PGS.TS Trần Xuân Cầu năm 2012, nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động, Nhân lực chính là tổng hợp bao gồm khả năng về sinh học, sức khỏe, nhận thức, phẩm chất, đạo đức, kỹ năng lao động, ý thức nghề nghiệp… trong nội tại mỗi con người. Theo Nguyễn Tiệp, thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”.
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” (Nguyễn Tiệp chủ biên 2005) (Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên 2008). “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội”.
Quản lý nhân lực được phát triển dựa trên cơ sở các nguyên tắc chủ yếu như sau: - CBCC cần được đầu tư thỏa đáng để phát triển năng lực riêng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, đồng thời tạo ra năng suất lao động, hiệu quả làm 8 z việc cao và đóng góp tốt nhất cho cơ quan nhà nước cấp Sở. - Các chính sách, chương trình và thực tiễn quản lý cần được thiết lập, thực hiện sao cho có thể thỏa mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của CBCC. - Môi trường làm việc cần được thiết lập phù hợp để có thể kích thích CBCC phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình. - Các chức năng nhân lực cần được thực hiện phối hợp và là một bộ phận quan trọng trong chiến lược thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
Con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo vào chi phối toàn bộ hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Nhân lực là sức lao động của con người - là nguồn lực quý giá nhất của mỗi đơn vị, tổ chức. * Khái niệm về quản lý nhân lực Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển.
Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc “tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội theo pháp luật”. Knoontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”(H.
Knoontz và các cộng sự 1994). Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng 9 z “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý giáo dục” tác giả Đặng Quốc Bảo và các cộng sự lại cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới” (Đặng Quốc Bảo và cộng sự 1999). Như vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quản lý hệ thống.
Cho nên khi nghiên cứu các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Nhưng, bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý. Để đạt được đến mục tiêu đã đề ra thì quản lý nhân lực sẽ thỏa mãn những mong muốn của các cá nhân nói riêng và đơn vị, tổ chức nói chung. Một môi trường làm việc an toàn, ổn định; cơ chế chính sách ưu đãi và thỏa đáng, những nhiệm vụ được giao có tính thách thức, trách nhiệm luôn là điều mà mọi cán bộ trông đợi từ phía cơ quan, đơn vị.
Nguyễn Ngọc Quân trong cuốn Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức có đưa ra quan điểm: Quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp hay quản trị nhân lực đều được sử dụng chung và khái niệm quản lý nhân lực như sau: Quản lý nhân lực là tất cả mọi hoạt động của tổ chức nhằm 10 z xây dựng, sử dụng, duy trì và phát triển một lực lượng lao động sao cho phù hợp với công việc của tổ chức cả về số lượng và chất lượng. Đi sâu vào nội dung hoạt động của quản lý nhân lực, tác giả PGS. Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: Quản lý nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức. Quản lý nhân lực bao gồm những nội dung công việc như: Phân tích công việc, lập kế hoạch nhân lực, tuyển dụng nhân lực; Sử dụng, duy trì nhân lực; Phát triển nhân lực.
Từ đó quản lý nhân lực tại cơ quan nhà nước cấp Sở được hiểu là tổng thể các hoạt động quản lý nhằm duy trì, phát triển và sử dụng hiệu quả nhân lực để thực hiện các nhiệm vụ hành chính của Sở. Nội dung quản lý nhân lực tại cơ quan nhà nước cấp Sở 1.Hoạch định nhân lực Hoạch định nguồn nhân lực là một tiến trình duyệt xét lại một cách có hệ thống những yêu cầu về nhân lực để đảm bảo rằng cơ quan sẽ có đúng số người có đầy đủ các kỹ năng theo đúng nhu cầu. Hoạch định nhân lực bằng phân tích, dự báo, lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo có đủ số lượng và chất lượng cán bộ ở những vị trí cần thiết vào những thời điểm nhất định.