Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về nông nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm nông nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: nông nghiệp là Ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi [5]. Trong tác phẩm Kinh tế Nông nghiệp - lý thuyết và thực tiễn, tác giả Đinh Phi Hổ quan niệm: “Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản” [3]. Theo đó, kinh tế nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tượng chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp và thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiềng, sân banh, sân golf). Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp), với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi.
Đây là ngành cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, sữa, trứng; cung cấp da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn nuôi dùng làm phân bón; đại gia súc dùng làm sức kéo. 8 Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ của rừng Ngư nghiệp bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong đó đánh bắt là hoạt động lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phẩm cho mình thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác. Như vậy có thể hiểu, Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
Đặc điểm của nông nghiệp 1. Đặc điểm của nông nghiệp nói chung - Đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống (vận động theo quy luật tự nhiên) Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng. Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng.
Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải 9 thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương. Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người. Vì vậy, nhận thức và tác động phù hợp với quy luật sinh học và quy luật tự nhiên là một yêu cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình sản xuất nông nghiệp nào.
- Sản xuất nông nghiệp có tính chất thời vụ cao trong sử dụng lao động, vốn và các nguồn lực khác Đây là đặc điểm điển hình của sản xuất nông nghiệp, nhất là trong trồng trọt. Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi tương đối dài, không giống nhau và thông qua hàng loạt giai đoạn kế tiếp nhau. Thời gian sản xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian lao động cần thiết để tạo ra sản phẩm cây trồng hay vật nuôi. Sự không phù hợp nói trên là nguyên nhân gây ra tính mùa vụ.
Để khắc phục tình trạng này, cần thiết phải xây dựng cơ cấu nông nghiệp hợp lí, đa dạng hóa sản xuất (tăng vụ, xen canh, gối vụ), phát triển ngành nghề dịch vụ. Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt, bởi vì, một mặt, thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất của các loại cây trồng và mặt khác, do sự biến đổi của thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng khác nhau. Thời gian lao động là khoảng thời gian mà lao động có tác động trực tiếp tới việc hình thành sản phẩm. Còn thời gian sản xuất được coi là thời gian sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
Quá trình sinh học của cây trồng, vật nuôi diễn ra thông qua hàng loạt các giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn này là sự tiếp tục của giai đoạn trước và tạo tiền đề cần thiết cho giai đoạn sau. Vì vậy, sự tác động của 10 con người vào các giai đoạn sinh trưởng của chúng hoàn toàn không phải như nhau. Từ đây nảy sinh tình trạng có lúc đòi hỏi lao động căng thẳng và liên tục, nhưng có lúc lại thư nhàn, thậm chí không cần lao động. Việc sử dụng lao động và các tư liệu sản xuất không giống nhau trong suốt chu kỳ sản xuất là một trong các hình thức biểu hiện của tính thời vụ.
Tính thời vụ thể hiện không những ở nhu cầu về đầu vào như lao động, vật tư, phân bón, mà còn ở cả khâu thu hoạch, chế biến, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Chu kỳ sản xuất các loại sản phẩm nông nghiệp tương đối dài và không giống nhau. Trong nông nghiệp, thời gian sản xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian lao động cần thiết để tạo ra sản phẩm đó, kể cả sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi. Sự không phù hợp giữa thời gian lao động và thời gian sản xuất là nguyên nhân nảy sinh tính mùa vụ.
Thời gian nông nhàn và thời gian bận rộn thường xen kẽ nhau. Tất nhiên, trong giai đoạn hiện nay bằng nhiều biện pháp kinh tế- tổ chức, người ta đã hạn chế tính thời vụ tới mức thấp nhất. Chẳng hạn để khắc phục tính thời vụ, chúng ta có thể xây dựng một cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, thực hiện đa dạng hóa sản xuất (tăng vụ, rải vụ.), phát triển các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn. - Năng xuất lao động của nông nghiệp phụ thuộc năng xuất của sinh vật Năng suất sinh vật là tổng lượng chất khô mà cây trồng tích lũy được trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt trong một thời gian nhất định (vụ, năm, chu kỳ sinh trưởng…) Khác với công nghiệp, trong sản xuất nông nghiệp, quá trình lao động của con người lệ thuộc vào quá trình hoạt động của các sinh vật sống theo quy luật vận động, phát triển riêng (yếu tố này giữ vai trò quyết định đến sản phẩm cuối cùng của nông nghiệp).
Bởi vậy, kết hợp tốt quá trình 11 tái sản xuất tự nhiên với quá trình tái sản xuất kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất phục vụ tốt mục đích kinh tế - Cung và cầu nông nghiệp có tính ít co giản Nông nghiệp với lợi thế là mang lại các sản phẩm lương thực, thực phẩm mang tính thiết yếu cho con người. Nhu cầu của thị trường có thể ngày càng gia tăng và nguồn cung cũng gia tăng, nhưng sự co giãn cung và cầu trong nông nghiệp ít diễn ra nhiều so với các lĩnh vực khác. Khi giá cả của các sản phẩm nông nhgiệp tăng thì thị trường điều phải tiếp nhận vì đây là các sản phẩm con người cần sử dụng hàng ngày. Đất đai là tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, đất đai không có khả năng gia tăng và sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ trong một thời gian nhất định.
Vì vậy, các sản phẩm nông nghiệp không thể gia tăng một cách đột biến theo giá cả thị trường mà cần có thời gian nhất định để thay đổi. - Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt Đất đai là một trong các nguồn lực quan trọng trong các ngành sản xuất. Trong công nghiệp, đất đai là nền móng, địa điểm xây dựng cơ sở hạ tầng, độ phì nhiêu của đất không ảnh hưởng gì đến chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, đối với nông nghiệp, diện tích đất, độ phì nhiêu của đất lại rất quan trọng, có tác động đến năng suất, sản lượng cây trồng và vật nuôi.
Trong nông nghiệp, đất đai đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đất đai bị giới hạn về diện tích và không thể mở rộng thêm theo ý muốn chủ quan của con người. Sức sản xuất của đất đai chưa có giới hạn do đó con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhâu câu ngày càng tăng lên. Đối với sinh vật, đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, quá trình lao động sản xuất ra sản phẩm có quan hệ mật thiết tới đặc tính của đất, chất lượng đất quyết định.
12 - Sản xuất nông nghiệp được tiến hành chủ yếu trên địa bàn nông thôn Theo thống kê năm 2013, trong tổng số 89,7 triệu người dân Việt Nam thì vẫn có 60,7 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm hơn 2/3 tổng dân số). Trong khi đó, tổng diện tích cả nước 330.951 km2, đất nông nghiệp là 262.805 km2 (chiếm tới 79,4%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 101.511 km2, đất lâm nghiệp là 153.731 km2, đất nuôi trồng thuỷ sản là 7.120 km2 và đất ở tại nông thôn là 5.