chương 1 của Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 về quản lý TĂCN, thủy sản. Tổ chức, cá nhân mua bán TĂCN phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: TĂCN tại nơi bày bán, kho chứa phải cách biệt với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại khác. Có thiết bị, dụng cụ để bảo quản TĂCN theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp. Có giải pháp phòng chống chuột, chim và động vật gây hại khác.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh TĂCN. Các yếu tố liên quan đến TĂCN như số lượng gia súc, gia cầm nhiều hay ít; quy mô chăn nuôi lớn hay nhỏ; thời gian chăn nuôi ngắn hay dài, giá bán gia súc, gia cầm. Yếu tố tự nhiên, thời tiết khí hậu, vị trí địa hình về đất đai đa dạng, nguồn lao động dồi dào và khả năng phát triển chăn nuôi lớn, đặc biệt là những mô hình phát triển chăn nuôi trang trại với quy mô lớn; đi kèm với đó là tình hình dịch bệnh, đầu ra cho sản phẩm, cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh TĂCN. Tổ chức quản lý: cơ quan chủ quản là UBND huyện và các phòng ban 10 chuyên môn thuộc huyện; các cơ quan chức năng chuyên môn liên quan có thẩm quyền theo ngành dọc là Phòng NN&PTNT, Chi cục CN&TY, Trạm CN&TY; các cơ quan liên ngành như Chi cục thuế, Quản lý thị trường, công an… thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, giám hoạt động kinh doanh TĂCN của các cửa hàng.
Năng lực của người kinh doanh: khả năng sắp xếp, điều hành và đặc biệt có 2 yếu tố quan trọng là chiến lược marketinh và khả năng tài chính của người kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả của việc kinh doanh TĂCN. Hiện nay trong kinh doanh TĂCN, người kinh doanh thức ăn có kinh nghiệm, có khả năng tư vấn tốt, đồng thời có khả năng tài chính rồi dào. hoạt động kinh doanh TĂCN của cửa hàng đó sẽ rất thuận lợi, hiệu quả cao. Đặc điểm quản lý nhà nước về kinh doanh thức ăn chăn nuôi Quản lý nhà nước về kinh doanh TĂCN mang đặc điểm chung của quản lý hành chính nhà nước.
Đó là: tính quyền lực; tính hành pháp; tính chấp hành và điều hành; tính thống nhất; tính liên tục và chủ động. Quản lý hoạt động kinh doanh TĂCN là hoạt động mang tính quyền lực của nhà nước. Quyền lực nhà nước trong quản lý được thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng là sử dụng văn bản quản lý. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật, dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn, dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng luật vào thực tiễn dưới dạng những mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động kinh doanh TĂCN.
Bên cạnh đó, tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý kinh doanh TĂCN còn thể hiện trong việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chịu trách nhiệm bảo đảm cho hoạt động quản lý được thực hiện một cách triệt để, chính xác thông qua những biện pháp về tổ chức, kinh tế, các hình thức như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và mức cao nhất là cưỡng chế nhà nước. Quản lý hoạt động kinh doanh TĂCN là hoạt động của nhà nước quản lý tất cả các mặt về kinh doanh TĂCN, đây là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp. Chủ thể quản lý bao gồm: cơ quan hành chính 11 nhà nước và công chức của những cơ quan này; thủ trưởng của các cơ quan nhà nước; các công chức nhà nước; các đơn vị sự nghiệp công lập được giao trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh TĂCN. Các cơ quan chuyên trách cấp tỉnh, huyện và chính quyền xã được giao trách nhiệm quản lý, kiểm tra tình hình trên địa bàn mình phụ trách.
Quản lý hoạt động kinh doanh TĂCN là hoạt động được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, đảm bảo lợi ích chung của cả nước, đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội nên có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành. Hoạt động quản lý kinh doanh TĂCN còn có tính chấp hành và điều hành. Tính chấp hành và điều hành được thể hiện trong những hoạt động quản lý được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật.
Như vậy trong mỗi hoạt động quản lý, tính chấp hành và tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý. Quản lý hoạt động kinh doanh là hoạt động mang tính liên tục, kịp thời, linh hoạt và sáng tạo đồng thời có tính chủ động cao để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội. Chính đặc điểm này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức, công vụ của bộ máy hành chính nhà nước, tạo ra bộ máy hành chính gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức năng động, sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với công tác của mình. Ngoài ra, theo Luật Đầu tư số 03/2016/QH14 thì TĂCN là mặt hàng kinh doanh có điều kiện nên các cơ sở kinh doanh TĂCN phải có giấy đăng ký kinh doanh mặt hàng TĂCN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; TĂCN tại nơi bày bán, kho chứa phải cách biệt với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại khác.
Có thiết bị, dụng cụ để bảo quản TĂCN theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp. Có giải pháp phòng chống chuột, chim và động vật gây hại khác. Do đó sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh TĂCN đòi hỏi có một bộ máy thực hiện hiệu quả, có hiệu lực và một hệ thống pháp luật về kinh doanh TĂCN đồng bộ hoàn chỉnh. Vai trò quản lý nhà nước về kinh doanh thức ăn chăn nuôi Thứ nhất, nhà nước có vai trò định hướng, kiểm soát thị trường, ngăn chặn đầu cơ tích trữ, độc quyền, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh TĂCN.
Theo Đặng Kim Sơn (2002), sự cạnh tranh trong kinh doanh TĂCN tăng rất nhanh, số người cạnh tranh trực tiếp đối với mỗi người buôn bán tăng khoảng 50% và tiếp tục trở nên mạnh mẽ hơn và sẽ cực kỳ khó khăn trong vài năm tới. Như vậy, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh TĂCN dễ dàng làm nảy sinh mâu thuẫn do đó cần có sự quản lý của nhà nước. Mặt khác, do các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh TĂCN thường muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình cho nên họ tìm mọi cách như: đầu cơ tích trữ TĂCN, độc quyền trong phân phối, chiết khấu cao làm đẩy cao giá TĂCN. Theo tác giả Nguyễn Văn Giáp và cs.
(2015), tại thị trường TĂCN, có hiện tượng các công ty nhỏ quan sát động thái giá của công ty thức ăn lớn trên thị trường và định giá theo giá công ty lớn. Như vậy thị trường TĂCN có một sự đồng thuận ngầm và lỏng lẻo giữa các nhà cung cấp TĂCN để định giá bán TĂCN, và tạo ra một sự độc quyền bán lỏng lẻo (oligopoly power). Khi đó các nhà sản xuất và cung cấp TĂCN có thể áp đặt giá và hưởng lợi trong khi người chăn nuôi nhỏ sẽ bị thiệt hại. Do đó rất cần nhà nước định hướng, kiểm soát thị trường, ngăn chặn đầu cơ tích trữ, độc quyền, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh TĂCN.
Theo Bộ NN&PTNT (2015), để góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp Bộ NN&PTNT đã tổ chức hội nghị “ Bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực đầu tư phát triển chăn nuôi” tại Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 5 và tại Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 2015. Theo đó, để góp phần quản lý tốt sản xuất, kinh doanh và sử dụng TĂCN cần kiểm soát tốt việc sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi, tìm kiếm giải pháp phù hợp cho việc thay thế các chất tạo nạc mà người chăn nuôi đang lạm dụng gây mất an toàn các sản phẩm chăn nuôi trong nước. Giảm thiểu các quy định trong việc đăng ký và công nhận chất lượng sản phẩm TĂCN vào danh mục, trong đó cần tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong việc công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Ở thời điểm hiện nay, khi mà mức tăng trưởng nóng trong lĩnh vực chăn nuôi lợn và công nghiệp chế biến TĂCN gia súc, gia cầm đang gây nên những hệ lụy lớn về thị trường tiêu thụ sản phẩm và môi trường sinh thái trong chăn nuôi gần.
Cụ thể, tổng đầu lợn có mặt thường xuyên hiện nay của Việt Nam đã trên 29 13 triệu con (trong đó đàn nái trên 4,2 triệu con, so với Thái Lan chưa đến 01 triệu con) đứng thứ tư trên thế giới. Tổng công xuất thiết kế của các nhà máy chế biến TĂCN công nghiệp đã đạt trên 31 triệu tấn, vượt xa so với kế hoạch định hướng là 25 triệu tấn vào năm 2020, với sản lượng TĂCN công nghiệp năm 2016 đạt 32,5 triệu tấn đã đưa Việt Nam trở thành nước đứng đầu trong các nước Asean (Thái Lan 18,6; Indonesia 18,3 triệu tấn) và đứng thứ 10 trên thế giới. Nhằm giảm thiểu những áp lực nêu trên, đảm bảo cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững, Bộ NN&PTNT đã đề nghị chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan trên địa bàn thực hiện các nhóm giải pháp tháo gỡ (Bộ NN&PTNT, 2017).