Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1. Khái niệm Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp quốc (LHQ) đã đưa ra định nghĩa: Công nghiệp hóa (CNH) là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển một cơ cấu kinh tế (CCKT) nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại.
Đặc điểm cơ cấu kinh tế này có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng hóa tiêu dùng và có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao và bảo đảm cho đạt tới sự tiến bộ về nền kinh tế xã hội [14, tr. Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa VII của Đảng (1994) đã chỉ rõ: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [8]. Coi sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường 11 lối đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh: “mục tiêu CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất , đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn , ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [12, tr. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với khái niệm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa như đã trình bày thì nội dung cơ bản của CNH-HDH trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam được hiểu như sau: Đó là: + Thực hiện cuộc cách mạng khoa học - công nghệ để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Muốn vậy cần phải: Xây dựng thành công cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội để dựa vào đó mà trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân. Và tổ chức nghiên cứu, thu thập thông tin, phổ biến ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ hiện đại vào sản xuất, 12 đời sống với những hình thức, bước đi, quy mô thích hợp. Quá trình thực hiện cách mạng khoa học và công nghệ, cần thực hiện tốt các nội dung sau: - Ứng dụng những thành tựu mới, tiên tiến về khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước phát triển nền kinh tế tri thức. - Sử dụng công nghệ mới gắn với yêu cầu tạo nhiều việc làm, tốn ít vốn, quay vòng nhanh, giữ được nghề truyền thống; kết hợp công nghệ cũ, công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại.
- Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ - Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp; ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, coi trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội. + Xây dựng cơ cấu kinh tế tối ưu và phân công lại lao động xã hội Xây dựng cơ cấu kinh tế tối ưu: Các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế tồn tại và hoạt động trong tổng thể nền kinh tế thống nhất, có mối liên hệ tất yếu khách quan dưới những hình thức tổ chức sản xuất nhất định, hình thành nên cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như một chỉnh thể. Do đó yêu cầu phải là sự sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu, ít hiệu quả sang cơ cấu hợp lý, tối ưu, có hiệu quả cao gắn liền với bước tăng trưởng cơ sở vật chất kỹ thuật do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra. Phân công lại lao động xã hội: Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa lao động, tức là chuyên môn hóa sản xuất giữa các ngành, trong nội bộ từng ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân.
Phân công lao động xã hội có tác dụng rất to lớn. Nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệ và năng suất lao động; cùng với cách mạng khoa học và công nghệ, nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phân công lại lao động xã hội phải tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau: 13 - Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên. - Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội. - Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất (dịch vụ) tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1. Khái niệm - Khái niệm cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Đây là mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, các thành phần trong nền kinh tế. Mối quan hệ này phản ánh cả hai mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố kinh tế hợp thành.
Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: “cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [27, tr.610] và liệt kê các loại cơ cấu kinh tế khác nhau như: cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ là quan trọng nhất. Giáo trình Kinh tế học phát triển của Viện Kinh tế và phát triển - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nêu định nghĩa về cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành [32, tr. Các yếu tố, bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế vận động không ngừng, bản thân các thành tố bộ phận được xem xét trong nhiều trường hợp cũng 14 chính là các hệ thống với cơ cấu nội tại riêng biệt và vận động, do đó khi xem xét cơ cấu kinh tế luôn phải tiếp cận theo tư duy biện chứng, vận động. Như vậy có thể hiểu cơ cấu kinh tế trên các khía cạnh: Xét về tổng thể, cơ cấu kinh tế bao gồm các bộ phận hợp thành, với những tỷ lệ, vị trí nhất định và có mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy nhau cùng tồn tại và phát triển trong nền kinh tế.
Xét về mặt vật chất kỹ thuật, cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều ngành và lĩnh vực, nhiều vùng, nhiều thành phần kinh tế với quy mô, tỷ trọng, trình độ kỹ thuật - công nghệ … nhất định. Xét về tính lịch sử cụ thể, cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử cụ thể. Trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, tất yếu có cơ cấu kinh tế tương ứng. Cơ cấu kinh tế luôn bị lạc hậu tương đối cùng quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại.
- Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp, tự túc từng bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm việc cải biến kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một quá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế về kinh tế xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ, tiểu thụ sản phẩm của các nước, các vùng, các đơn vị kinh tế khác nhau… [1, tr.