CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE VAN ĐÈ THAM DINH DU AN DAU TU CUA NGAN HANG 1. Một số vấn đề lý luận về dự án đầu tư và ngân hàng thương mai 1. Khái quát về dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án dau tư Có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tổ chức khi nêu khái niệm về dự án đầu tư.
Theo Ngân hàng Thế giới: dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chỉ phí có liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Theo quan điểm của Viện quản lý dựán (PMI) khi xem xét về dự án: dự án là một nỗ lực hành động có thời hạn để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ đơn nhất. Ở Việt Nam, theo Nghịđịnh số 177/NĐ-CP về điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng: “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề suất về việc bỏ vốn dé tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định”. Theo quan điểm chung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động với các nguồn lực và chi phí cần thiết để bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với quy định, thời gian và địa điểm xácđịnh nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.
Dự án đầu tư được xem xét trên nhiều góc độ: Vé mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chỉ tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Theo góc độ quan ly, dự án đầu tư là công cụ hoạch định việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài. Theo góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chỉ tiết một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiến độ cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Nguyễn Thị Mỹ- Đầu tư CLC K57 2 Chuyên dé tốt nghiệp Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được mục tiêu đãđịnh bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng nguồn lực xác định.
Các nội dung chính của dự án đầu tư: Mục tiêu của dự án: là các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án. Cụ thể là khi thực hiện, dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản thân chủ đầu tư nói riêng. Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án.
Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. Các nguôn lực: gồm có vật chat, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.
Vai trò của dự án dau tư % Đối với chủ đầu tư: - Dự án đầu tư là một căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư dự án hay không. - Dự án đầu tư là công cụ để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư cho dự án. - Dự án đầu tư là phương tiện để chủ đầu tư thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn. - Dự án đầu tư là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án.
- Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình. Nguyễn Thị Mỹ- Đầu tư CLC K57 3 Chuyên đề tốt nghiệp - Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để soạn thảo hợp đồng liên doanh cũng như để giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án. s* Đối với nha tài trợ (các ngân hàng thương mại): - Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ. s* Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: - Dự án đầu tư là tài liệu quan trọng để các cấp có thâm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư.
- Là căn cứ pháp lý để toà án xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này. Yêu cầu đối với dự án đầu tu “Mot là, tính khoa học. Tính khoa học của dự án được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau: Về số liệu thông tin: Những dit liệu, thông tin để xây dựng dự án phải đảm bảo trung thực, chính xác, tức là phải chứng minh được nguồn gốc và xuất xứ của những thông tin và những số liệu đã thu thập được (do các cơ quan có trách nhiệm cung cấp, nghiên cứu tìm hiểu thực tế. Về phương pháp lý giải: Các nội dung của dy án không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể thống nhất, đồng bộ.
Vì vậy, quá trình phân tích, lý giải các nội dung đã nêu trong dự án phải đảm bảo logic và chặt chẽ. Ví dụ, vấn đề mối quan hệ giữa các yếu tố thị trường, kỹ thuật và tài chính của dự án — quyết định đầu tư dây chuyền sản xuất — lắp ráp xe ga hay xe số. Về phương pháp tính toán: Khối lượng tính toán trong một dự án thường rất lớn. Do đó, khi thực hiện tính toán các chỉ tiêu cần đảm bảo đơn giản và chính xác.
Đối với các đồ thị, các bản vẽ kỹ thuật phải đảm bảo chính xác về kích thước, tỷ lệ. Về hình thức trình bày: Dự án chứa đựng rất nhiều nội dung, nên khi trình bày phải đảm bảo có hệ thống, rõ ràng và sạch dep. + Hai là, tính pháp lý. Dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước.
Điều này đòi hỏi người soạn thảo dự Nguyễn Thị Mỹ- Đầu tư CLC K57 4 Chuyên đề tốt nghiệp án phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bản luật pháp có liên quan đến các hoạt động đầu tư đó. s* Ba là, tính thực tiễn. Tính thực tiễn của dự án dau tư thể hiện ở khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế. Các nội dung, khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể chung chung mà dựa trên những căn cứ thực tế -> phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, thị trường, vốn.
4 Bốn là, tinh thống nhất. Lập và thực hiện dự án đầu tư là cả một quá trình gian nan, phức tạp. Đó không phải là công việc độc lập của chủ đầu tư mà nó liên quan đến nhiều bên như cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, các nhà tài trợ. ¢ Năm là, tính phỏng định.
Những nội dung, tính toán về quy mô sản xuắt, chỉ phí, giá cả, doanh thu, lợi nhuận. trong dự án chỉ có tính chất dự trù, dự báo. Thực tế thường xảy ra không hoàn toàn đúng như dự báo. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, thực tế xảy ra lại khác xa so với dự kiến ban đầu trong dự án.
Khái quát về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: *® Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. ° Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng va tài chính". ° Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Nguyễn Thị Mỹ- Đầu tư CLC K57 5 Chuyên đề tốt nghiệp 1. Chức năng của ngân hàng thương mại s* Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại.