CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN CHO VAY CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm cho vay đối với khách hàng cá nhân Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mai. Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất.Các ngân hàng thương mại có hai hình thức cho vay chính là cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp.Rose, 2003, trang 615), cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, các cá nhân và các cơ quan chính phủ. Cho vay đối với khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục dich đáp ứng nhu cau vay vốn dé tiêu dùng và phục vụ sản xuắt, kinh doanh. Cho vay khách hàng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyên vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao dé đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.2 Đặc điểm của cho vay đối với khách hang cá nhân: Cho vay đối với KHCN có những đặc điểm riêng biệt có thể phân loại với các loại hình cho vay khác như sau: cS *, Đối tượng cho vay: Với đặc điểm đối tượng vay von là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có nhu cầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó.
Khác với các doanh nghiệp và các tô chức kinh tế, khách hang cá nhân thường có số lượng rat lớn, nhu cau vay vốn rất đa dang song không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa — xã hội. Chính vi vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũng rất khác nhau. * * * Quy mô khoản vay: Hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân, các hộ gia đình, hộ kinh doanh nhăm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân, hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng. * * * Mục dich vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình.
Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ôn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn, do vậy sẽ thúc day sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng. Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
Khách hàng vay thường chú ý đến việc được ngân hàng cho vay bao nhiêu trên số tài sản bảo đảm hay trên mức thu nhập của họ là chính. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng. s* Rui ro đối với cho vay KHCN: Cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được coi là tai sản rủi ro nhat trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thé có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mat khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tinh trạng sức khoẻ, công việc.
* Lãi suất cho vay: Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay dé mua bất động sản) nhưng chỉ phí bỏ ra để quản lý lại rất lớn đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM. > Chi phí lớn: Số lượng khách hàng có nhu cầu vay rất lớn nhưng doanh số cho vay không cao. Dé tránh gặp phải những rủi ro trong cho vay, Ngân hàng thường tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc vào hoạt động thâm định và giám sát khoản vay một cách nghiêm ngặt.
Ngoài ra, việc thu nhập thông tin cá nhân là rất khó khăn (thường không day đủ và thiếu chính xác) nên các NHTM sẽ chấp nhận chi phí cao dé đánh đổi rủi ro cao, đảm bảo an toàn cho các món vay. s%* Thời gian vay vốn: Đối với tín dụng cá nhân thì thời gian vay vốn thường rất đa dạng, bao gồm các khoản tín dụng ngăn hạn, trung hạn và dài hạn.Đối với những khoản tím dụng bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh thì thời hạn chủ yếu ngắn hạn. Còn đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thường là trung và dài hạn.3 Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân: * Đối với khách hàng: Mỗi con người trong cuộc sông hiện đại luôn cần có những nhu cầu về vật chất và tinh thần, những nhu cau đó ngày càng phong phú, đa dang và cao hơn bắt đầu từ những hàng hoá thiết yếu rồi đến những hàng hoá xa xỉ hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên việc thỏa mãn những nhu cầu đó lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán hiện tại của các cá nhân.
Hoạt động cho vay KHCN đóng vai trò rất quan trọng đối với các cá nhân, hộ gia đình khi họ có nhu cầu cần vốn để tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh. Tiếp cận nguồn vốn ngân hàng là biện pháp hữu hiệu không những có thé giải quyết nhu cầu cấp bách về tiêu dùng mà còn hỗ trợ mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần cải thiện thu nhập, đời sống của khách hàng khi họ chưa có khả năng chi trả, thanh toán tức thời tại thời điểm hiện tại. * Đối với ngân hàng: - Góp phan đa dang hóa các hoạt động kinh doanh: Hoạt động cho vay KHCN là một mảng hoạt động quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động tài chính của Ngân hàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng phát triển của Ngân hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt đề giành thị phần như hiện nay, các Ngân hàng đang dành sự quan tâm rất lớn đến mảng hoạt động dịch vụ bán lẻ nói chung, cũng như hoạt động cho vay KHCN nói riêng vì đây là một thị phần rộng lớn và còn nhiều khía cạnh chưa được khai thác.
- Gop phan nâng cao thương hiệu cho ngân hàng: Do có đối tượng khách hàng rất rộng nên việc phát triển tín dụng cá nhân sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp. Hoạt động cho vay KHCN tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng trong việc bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyên lương qua tài khoản, phát hành thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử. Khả năng cung cấp gói sản phẩm dịch vụ tai chính cá nhân đồng bộ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo nét khác biệt cho ngân hàng trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng. - Góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng: Nếu một ngân hang chỉ tập trung cho vay các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Do vậy, các ngân hàng phát triển cho vay KHCN như một sự phân tán rủi ro vì với sô lượng khách hàng cá nhân đông, sô tiên vay ít thì khi có một khách hàng hoặc một số ít khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì ít gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. * * Đối với nên kinh tế- xã hội - Gop phan tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế: Cho vay KHCN là kênh hỗ trợ vốn dé người dân trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống, thỏa mãn các nhu cau từ thiết yếu cho đến xa xi với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Dé có thé đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phan kinh tế phải đây mạnh sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập. - Gop phan tạo sự 6n định về mặt xã hội: Là một phần của tín dụng nói chung, cho vay KHCN cũng có vai trò tích cực đối với xã hội.
Cho vay KHCN góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. Cho vay KHCN giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc day sản xuất trong nước. Do đó thu hút nhiều lực lượng lao động tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ôn định trật tự xã hội.4 Các loại hình cho vay khách hàng cá nhân: Việc phân loại các hình thức cho vay nhằm mục đích quản lí các khoản vay mang lại hiệu quả nhất.