Chuyên đề: Phân tích vấn đề nợ công từ vốn vay ODA tại Việt Nam (ĐH Kinh tế Quốc dân)

Phân tích nợ công từ vốn vay ODA ở Việt Nam: Chuyên đề thực tập tốt nghiệp đi sâu vào thực trạng, thách thức và giải pháp quản lý nợ hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

48
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

DANH MỤC BANG BIEU, HÌNH VE, TỪ VIET TAT

MỞ DAU

1. GIỚI THIỆU CHUNG VE NO CÔNG VA ODA

1.1. Cơ sở lí thuyết về nợ CONQ

1.1.1. Khai niệm

1.1.2. Đặc diém của NG CONG

1.1.3. Phân lOQÌ NG CÔHHg

1.1.4. Các hình thức vay nợ của Chính ph

1.1.5. NUON CUA NG CÔ IHg

1.1.6. Các chỉ tiêu đánh giá VE sự an ON của NG CÔNg

1.1.7. Tác động CHUNG CUA NG CONG

1.2. Cơ sở lí thuyết về ODA

1.2.1. Đặc điểm của nguồn vốn ÓDA

1.2.2. Phân loại ngudn vốn ODA

1.2.3. Vai trò của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức QDA

1.3. Tổng quan nghien CUU

1.3.1. Các nghién CỨU ở HƯỚC HOÀÌ

1.3.2. Ce nghiÊH CỨU trONG HIƯỚC

2. CHUONG 2: THUC TRANG TINH HINH NO CÔNG TỪ VON VAY 90

2.1. Thực trang nợ công từ vốn vay ODA trên thế giới — bai học kinh II hÏỆTN

2.2. Thực trạng tình hình nợ công từ vốn vay oda ở việt nam

2.3. Đánh giá chính sách thiết chặt vốn vay ODA để giảm nợ công của VI N86

2.3.1. Những Nan CUE

3. CHUONG 3: PHAN TÍCH TAC DONG CUA NGUON VON ODA DEN NO CÔNG TẠI VIET NAM

3.1. Phân tích tác dộng của nguồn vốn oda đến nợ công tại Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHAP QUAN LÝ NGUON VON ODA DE GIAM NO CÔNG TẠI VIET NAM

4.1. Mục tiêu và phương hướng

4.2. Một số giải pháp, kiẾn nghị

4.2.1. Kiến nghị đối với nhà HHÓC

DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHHẢO

LOI CẢM ON

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nợ Công Việt Nam Vốn Vay ODA

Nợ công, hay còn gọi là nợ chính phủ, nợ quốc gia, là một khái niệm phức tạp. Việc thống nhất một định nghĩa chung là khó khăn, phụ thuộc vào cách quản lý và giám sát của mỗi quốc gia và tổ chức tài chính quốc tế. Định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất là của IMFWorld Bank, theo đó nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công, bao gồm chính phủ và các tổ chức công. Ở Việt Nam, khái niệm này hẹp hơn, bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Nợ công phát sinh khi nhu cầu chi tiêu công lớn hơn nguồn thu, buộc chính phủ phải vay nợ. Bản chất kinh tế của nợ công xuất phát từ việc nhà nước chi tiêu vượt ngân sách, chi lớn hơn thu. ODA (Official Development Assistance) là dòng tài chính chính thức được quản lý để thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển, với yếu tố tài trợ ít nhất 25%. ODA bao gồm đóng góp của các cơ quan chính phủ và các tổ chức đa phương. ODA cần được thực hiện bởi khu vực chính thức, với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi, và theo các điều khoản tài chính ưu đãi. ODA là một hỗn hợp tài chính, với một phần nhỏ thực sự chảy vào các nước đang phát triển.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của nợ công Việt Nam

Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước. Nó được quản lý theo quy trình chặt chẽ, với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mục tiêu hàng đầu là đảm bảo việc trả nợ và sử dụng vốn vay đúng mục đích, không gây thất thoát, lãng phí. Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng vốn vay là phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Xét về bản chất kinh tế, nợ công phát sinh từ việc Nhà nước mong muốn chi tiêu vượt ngân sách nhà nước cho phép. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (2010): “Nợ công chính là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Đi cùng với nợ công bao gồm khu vực Chính phủ và tô chức công”.

1.2. Phân loại và vai trò của vốn vay ODA

ODA được phân loại theo nhiều tiêu chí, bao gồm hình thức tài trợ (ODA không hoàn lại, ODA vay ưu đãi, ODA hỗn hợp), nguồn cung cấp (ODA song phương, ODA đa phương), mục đích sử dụng (hỗ trợ cán cân thanh toán, tín dụng thương mại, viện trợ chương trình, viện trợ dự án, hỗ trợ kỹ thuật) và điều kiện (ODA không ràng buộc, ODA có ràng buộc). Nguồn vốn ODA đóng góp đáng kể cho các nước đang phát triển, đặc biệt là trong các lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn môi trường, chăm sóc sức khỏe, công nghiệp hóa và tái thiết sau chiến tranh. ODA được định nghĩa là: Dong tài chính chính thức được quản lý với mục đích thúc day sự phát triển kinh tế va phúc lợi của các nước đang phát triên là mục tiêu chính, và có tính ưu đãi với yêu tô tài trợ ít nhất 25% (sử dụng tỷ lệ chiết khấu 10% cố định).

II. Thực Trạng Nợ Công Từ Vốn ODA tại Việt Nam Gần Đây

Nợ công Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2017, tổng số nợ công là 62,6% GDP, trong đó nợ chính phủ là 51,7% GDP và nợ nước ngoài là 48,9% GDP. Nợ công đang tăng dần qua các năm từ giai đoạn 2011-2016. Đến năm 2018, tình hình nợ công và nợ Chính phủ đã giảm so với năm 2016. Tuy nhiên, nợ nước ngoài lại có xu hướng tăng. Điều đáng chú ý là trong khi các chỉ tiêu nợ công và nợ nước ngoài luôn nằm ở ngưỡng an toàn thì nợ Chính phủ đã vượt quá mức an toàn. Nguyên nhân là do bội chi ngân sách kéo dài, đầu tư công không hiệu quả, cơ chế quản lý kỷ luật ngân sách không hiệu quả, phân cấp ngân sách chưa hợp lý và chi phí lãi vay cao. Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể trong khả năng giải ngân vốn vay ODA. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn ODA vẫn chưa cao. Nhiều dự án chậm tiến độ, đội vốn và không mang lại hiệu quả như mong muốn.

2.1. Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2011 2018

Tính đến năm 2017, số dư nợ công đã là 2.587 tỷ VNĐ đồng, chiếm hơn 61,4% GDP, gần chạm ngưỡng cho phép của chính phủ là 65%. Nợ công/GDP (%) (Nguôn : Ban tin nợ công sô 7, Bộ Tài chính). Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng nợ công tối ưu (nhằm đảm bảo nợ công là động lực giúp tăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triển là 90%, các nước đang phát triển có nền tảng tốt là 60% và có nền tảng kém là 30 - 40%. Vì vậy, mức ngưỡng nợ công/GDP được Quốc hội đề ra 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo bản tin tài chính số 7 được công bố vào tháng 11/2018, chỉ trong vòng có hơn 5 năm từ năm 2013-2017, số du nợ công của Việt Nam đã tăng hơn 1,5 lần so với năm 2013.

2.2. Thực trạng sử dụng vốn vay ODA tại Việt Nam

Việt Nam từ Đổi Mới năm 1986, đáng chú ý là nước ta đã từ một trong những nước nghèo, lạc hậu và kém phát triển nền kinh tế đã có bước tăng trưởng đột phá vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp MIC vào năm 2009. Với chỉ số Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người đã tăng từ 130 USD/người lên 1.100 USD/người., Trong giai đoạn từ năm 2016-2020, dòng vốn ODA đầu tư vào Việt Nam nhiều, có tác động tích cực đến phát triển kinh tế — xã hội. Theo thống kê, tổng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA có thé đàm phán, ký kết đạt khoảng 20 — 25 tỷ USD, giải ngân đạt khoảng 25 — 30 tỷ USD. Tuy vậy, hiệu quả sử dụng vốn ODA vẫn chưa hiệu quả, hợp lý.

2.3. Đánh giá chính sách quản lý ODA hiện hành

Kiểm soát nợ công đã có những bước tiến: Theo như đại diện Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (QLN&TCDN) Bộ Tài chính. Hiện tại, Bộ Tài chính đã trình cấp có thâm quyền phê duyệt các công cụ quản lý nợ nhằm kiểm soát bền vững nợ công như chiến lược nợ dài hạn, chương trình quản lý nợ trung hạn; hàng năm báo cáo Chính phủ, Quốc hội về tình hình cũng như những vân đê đặt ra đôi với nợ công. Tuy nhiên tỷ lệ nợ công/GDP dự kiến năm 2017 đã có cải thiện (thâp hơn so với năm 2016), tuy nhiên nhìn cả giai đoạn vẫn còn một số tồn tại hạn chế như nợ công tăng nhanh (trung bình tăng khoảng 18,4%/nam trong giai đoạn 2011 — 2016), áp lực trả nợ lớn, việc quản lý và sử dụng vốn vay còn bắt cập.

III. Phân Tích Tác Động ODA đến Nợ Công tại Việt Nam

Để phân tích tác động của nguồn vốn ODA đến nợ công tại Việt Nam, có thể sử dụng mô hình cây nhị phân được Manasse và Roubini công bố năm 2005. Mô hình này sử dụng 10 biến số để đánh giá rủi ro nợ công, bao gồm tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP, tốc độ tăng trưởng GDP thực, nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại hối, nợ công nước ngoài trên tổng thu ngân sách nhà nước, số năm đến cuộc bầu cử, lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ, lạm phát, nhu cầu tài trợ đầu tư từ nước ngoài, định giá tỷ giá và sự biến động của tỷ giá. Phân tích theo mô hình này cho thấy nợ công của Việt Nam hiện tại vẫn an toàn, tuy nhiên quy mô nợ công đã tăng hơn 2 lần từ năm 2011 đến năm 2016 và đang tiến sát ngưỡng cho phép. Khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, các ưu đãi về cho vay đối với Việt Nam đã giảm đi, gây áp lực lên nợ công.

3.1. Mô hình Cây Nhị Phân đánh giá rủi ro nợ công

Để giải thích cho khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công, Manasse va Roubini đã sử dụng khoảng 50 biến và được chia thành ba nhóm: (1) nhóm biến vĩ mô căn bản, (2) nhóm biến phản ánh sự bat ôn, (3) nhóm biến phản ánh kinh tế - chính trị. “Trong đó, Manasse và Roubini đặc biệt chú ý đến những chỉ tiêu kinh tế về nợ công như tỉ lệ nợ công/ tông GDP, tỉ lệ nợ nước ngoai/GDP, các chỉ sô vê cán cân tài chính quôc gia nhằm đánh giá tác động cũng như mối quan hệ giữa tiền tệ và nợ công như thế nào? Phân tích tỉ lệ xảy ra các cuộc khủng hoảng.

3.2. Tác động của ODA đến các chỉ số nợ chủ yếu

Theo số liệu từ Bộ Tài chính, từ năm 2011 đến năm 2016, quy mô nợ công đã tăng hơn 2 lần. Nếu tính theo tỷ lệ so với GDP thì nợ công đã tăng từ mức 54,9% GDP năm 2011 lên mức 64,73% năm 2016, đang tiến sát ngưỡng cho phép (65%GDP) của Quốc hội (xem Hình 2). Tốc độ tăng bình quân nợ công giai đoạn 2011 — 2016 vào khoảng 17,5%, gấp gần 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn này (UBGSTCQG, 2016). Thực trạng này đang đe dọa đến sự an toàn của nợ công Việt Nam.

IV. Giải Pháp Giảm Nợ Công Từ Vốn Vay ODA Phân Tích

Để giảm nợ công từ vốn vay ODA, cần có các giải pháp đồng bộ. Các công cụ quản lý và thể chế chính sách nợ công cần được hoàn thiện. Nhà nước cần có sự đổi mới tư duy trong việc sử dụng nguồn vốn ODA, cần có sự chọn lọc chặt chẽ hơn. Các vướng mắc cần được tập trung xử lý, thúc đẩy giải ngân nguồn vốn đã được ký kết và sử dụng một cách hiệu quả. Cần có sự sàng lọc, lựa chọn, hiệu quả để bảo đảm không vượt trần bội chi ngân sách, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đồng thời đảm bảo chỉ tiêu an toàn nợ công mà Quốc hội đã phê duyệt. Thúc đẩy thu hút vốn FDI vào Việt Nam; da dạng hóa hình thức huy động vốn đầu tư phát triển.

4.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý nợ công

Cần hoàn thiện các công cụ quản lý và thê chế chính sách nợ công. Thay đổi thé chế dé chuyên đổi nợ thành viện trợ, đầu tư, hoán đổi nợ, mua bán nợ khi ta đã nhận những bài học từ nợ xấu. Cần phải xây dựng những chính sách, thay đổi. nằm trong kế hoạch đầu tư hằng năm của doanh nghiệp nên đề xuất doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài phù hợp kế hoạch vay nợ công hằng năm, trung hạn và phù hợp tiến độ thực hiện thực tế.

4.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA chống lãng phí

Tuy vậy nhu cầu vốn của chúng ta rất cao, có thê nói là “đói vốn”, trong khi thời gian cho phép thì lại quá ít. Vì vậy, trong thời gian tới, nước ta nên tập trung nguồn lực giải quyết các điểm yếu ké, nhằm mục đích khơi thông nguồn vốn một cách nhanh và hiệu quả nhất bằng cách đây mạnh quản lý, giám sát. Ngoài ra, cần giám sát công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính cho đến quá trình tái định cư hợp lý. Cần thực hiện chủ trương vay, đàm phán, ký kết thỏa thuận vay phân bổ và sử dụng vốn vay phải được đề xuất, thâm định, phê duyệt sao cho đúng mục đích, hiệu quả; không chuyền khoản vay ưu đãi nước ngoài thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước và nợ vay lại vốn vay ODA.

4.3. Đa dạng hóa nguồn vốn và giảm phụ thuộc ODA

Không dé quá phụ thuộc vào nguồn vốn ODA, ta có thé thúc đây thu hút vốn FDI vào Việt Nam; da dạng hóa hình thức huy động vốn đầu tư phát triển: phát hành trái phiếu chỉnh quyền địa phương, BOT, BTO BT, PPP ,.một vài dự án đã được đưa vào sử dụng. Việt Nam phải có sự chọn lọc chặt chẽ hơn trong sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và đôi mới tư duy về huy động nguồn vốn này. Ban hành Luật Dau tu công trong đó có chương riêng về quản lý nguồn vốn ODA.

V. Kết Luận Quản Lý Nợ Công và Vốn ODA Bền Vững

Bài nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng và tác động của vốn vay ODA đến nợ công tại Việt Nam. Tỷ lệ nợ công vẫn còn khá cao và chưa được kiểm soát chặt chẽ. Nguồn vốn ODA hiện nay vẫn chưa được sử dụng hiệu quả, dẫn đến ODA đã chiếm phần trăm rất lớn trong nợ công của chính phủ. Để quản lý nợ công và vốn ODA bền vững, cần hoàn thiện thể chế và chính sách, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đa dạng hóa nguồn vốn và giảm phụ thuộc ODA. Cần có sự chọn lọc chặt chẽ hơn trong sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và đổi mới tư duy về huy động nguồn vốn này.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nợ công ở nước ta vẫn còn khá cao và chưa được kiểm soát chặt chẽ, đồng thởi vấn đề quản lí nợ công cũng là vấn đề nóng hồi, đáng được quan tâm hiện nay. Nguồn vốn ODA hiện nay vẫn chưa được sử dụng hiệu quá; các dự án chưa minh bạch toàn bộ số vốn, chưa được công bố rõ quy trình phân bổ vốn với các tiêu chí rõ ràng. Dẫn đến ODA đã chiếm phần trăm rất lớn trong nợ công (danh mục nợ nước ngoai) của chính phủ.

5.2. Hàm ý chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo

Việt Nam phải có sự chọn lọc chặt chẽ hơn trong sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và đôi mới tư duy về huy động nguồn vốn này. Ban hành Luật Dau tu công trong đó có chương riêng về quản lý nguồn vốn ODA. Tuy nhiên bài nghiên cứu vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, phân tích số liệu vẫn còn chưa đầy đủ. Đề tài của nhóm thu hẹp giảm thiểu nợ công từ một khía cạnh quản lý nợ công, chưa có nhiều bài nghiên cứu nào trước đó chỉ khai thác sâu vào chu dé này nên còn hạn chê.

11/09/2025
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp phân tích vấn đề nợ công từ vốn vay oda ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở nghiên cứu va tổng quan nghiên cứu về tác động của nguồn vốn ODA đến nợ công tại Việt Nam - trình bày các khái niệm về nợ công, nguồn vốn vay ODA, mối quan hệ giữa chúng và tổng quan một số bài nghiên cứu liên quan đến bài nghiên cứu. Thực trạng nợ công từ nguồn vốn ODA ở Việt Nam - trình bay thực trạng nợ công, thực trạng nguồn vốn ODA và tác động của nguồn vốn ODA tới nợ công ở Việt Nam hiện nay, đánh giá chính sách thiết chặt vốn vay ODA để giảm nợ công của chính phủ Chương 3. Phân tích tác động của vốn vay ODA tới nợ công của Việt Nam-đưa ra mô hình và kết quả kiểm định về mối quan hệ của các biến số độc lập với biến tăng trưởng kinh tế.

Đề xuất và kiến nghị - đưa ra một số giải pháp nhằm quản lý nguồn vốn vay ODA hợp lý để cải thiện tình trạng nợ công của Việt Nam. GIỚI THIỆU CHUNG VE NO CONG VÀ ODA 1.1 Cơ sở lí thuyết về nợ công.1 Khai niệm: Nợ công hay còn gọi là nợ Chính phủ, nợ quốc gia, là một khái niệm khá khó dé định nghĩa. Do vậy, việc thống nhất một khái niệm chung về nợ công là điều vô cùng khó khăn. Tùy vào sự khác nhau trong việc quản lí, giám sát nợ công của mỗi nước cũng như của các tổ chức tài chính quốc tế mà định nghĩa về nợ công cũng có sự khác biệt.

Tuy nhiên, khái niêm nợ công được sử dụng rộng rãi nhất chính là khái niệm được IME và World Bank sử dụng. Theo Quỹ tiễn tệ quốc tế IMF (2010): “No công chính là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Đi cùng với nợ công bao gồm khu vực Chính phủ và tô chức công”. Tại Việt Nam, thì khái niệm nợ công có phạm vi hạn hẹp hơn so với quốc tế.

Theo luật quản lí nợ công được ban hành tháng 6/2009 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2010: “Nợ công bao gồm: Nợ Chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương”. Trong đó: - No Chính phủ: Là các khoản nợ được kí kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhưng không tính tới các khoản nợ do NHNN phát hành cho các hoạt động chính sách tiền tệ từng thời kì - No được Chính phủ bảo lãnh: La các khoản nợ vay cả trong và ngoài nước của các tổ chức, doanh nghiệp được Chính phủ đứng ra bảo lãnh. - No địa phương: Là các khoản nợ được kí kết hoặc ủy quyền phát hành của Chính quyền địa phương các cấp tỉnh, thành phô. Có thé hiểu nợ công là khoản vay nợ của Nhà nước để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội nhằm giúp phát triển đất nước trong khi mà các nguồn thu không thé đáp ứng được điều đó.2 Đặc điểm của nợ công.

a) Đặc trưng của nợ công Nợ công gồm những đặc trưng sau:. Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước: Nợ công là khoản nợ mà trong đó cơ quan Nhà nước có thâm quyền sẽ là người đứng ra đi vay hoặc co quan nhà nước có thẩm quyền sẽ đứng ra bảo lãnh cho một chủ thé 9 trong nước (các doanh nhiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đàu tư nhà nước 50%, hoặc các tổ chức chính phủ. Vi thé nợ công được xác định là khoản nợ mà Nhà nước có trách nhiệm trả nợ. 7 Nợ công được quản lí theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nha nước có thâm quyền.” Nợ công cần được quản lí chặt chẽ, có cơ chế kỷ luật hợp lí, với hai mục tiêu hàng đầu: + Bên đi vay cũng như bên cho vay phải đảm bảo được việc trả nợ của vốn vay của bên đi vay.

Đặc biệt, phải đảm bảo được cán cân tiền tệ cũng như cán cân thanh toán vĩ mô, và an ninh tài chính quốc gia. + Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích , đúng mục tiêu nhà nước đã đề ra, không gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn. e Phát triển kinh tế-xã hội của đất nước chính là mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng vốn vay. Nợ công được huy động và sử dụng là vì lợi ích chung của toàn xã hội không phải vì bat cứ cá nhân hay tổ chức riêng nào.

Với khẩu hiệu” Nhà nước là của dân, do dân và vì dân” nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, vì lợi ích chung của toàn xã hội mà cụ thé là dé phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất. b) Bản chất kinh tế của nợ công. Xét về bản chất kinh tế, nợ công phát sinh từ việc Nhà nước mong muốn hay bắt buộc chi tiêu vượt qua ngân sách nhà nước cho phép, chi tiêu lớn hơn khả năng thu ngân sách (thuế, phí, các khoản thu khác,. Nợ công chính là hệ quả của việc nhà nước tiễn hành đi vay vốn và nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả lại.

Trong kinh tế học cô điển, nguyên tắc ngân sách cân bằng hết sức được coi trọng, và được ghi nhận ở rất nhiều quốc gia hiện nay. Ngân sách cân sách cân bang là số chi mà chính phủ bỏ ra bằng với số mà chính phủ có thê thu lại. Cán cân ngân sách sẽ giúp cho chính phủ biết được tình hình chi tiêu của mình dé có cơ chế chi thu phù hợp, tránh trường hợp bội thu ngân sách cũng như lạm thu. Các nhà kinh tế học cô điển như A.Say là những người khởi xướng và ủng hộ nguyên tac ngân sách cân bang này trong quản lí tài chính công.

Và 10 chính vi thé, họ đã phản đối với việc Nhà nước có thé vay nợ dé chỉ tiêu sẽ làm thâm hụt cán cân ngân sách. Ngược lại với các nhà kinh tế học cô điển, một nhà kinh tế học được đánh giá có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thé ki XX là John là M.Keynes và những người ủng hộ việc đi vay dé chi tiêu của Chính phủ ( gọi là trường phái Keynes), vi họ cho rằng trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp,dẫn đến giảm sản lượng chung của toàn xã hội thì sẽ cần một bàn tay vô hình đầu tư vào các dự án đầu tư công cộng(đường xá cầu công,trường học,. thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư đóng góp tốt trở lại, nhằm khôi phục, ồn định và phát trién nền kinh tế. Và bàn tay đó Chính là nhà nước đi vay nợ dé dau tư, giúp nền kinh tế vượt qua thời kì khó khan.

Lí thuyết này được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của kinh tế.3 “Phân loại nợ công” “Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lí và sử dụng nợ công.” - — “ Theo tính chất nợ, Luật Quản lí nợ công số 29/2009/QH12,Nợ công được quy định trong luật này bao gồm nợ Chính phủ , nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ Chính quyền địa phương.” - Theo thoi han no + Ngan han: Thoi han cho vay < 1 nam + Trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1-10 năm + Dài hạn: Thời hạn cho vay >10 năm - Theo hình thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ từ thoả thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. + Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công được thông qua các hiệp định thỏa thuận giữa hai bên là Nhà nước Việt Nam với bên cho vay. +No công từ công cụ nợ là khoản nợ công phát sinh do Nhà nước phát hành các công cụ nợ như trái phiếu, cô phiếu. ` - Theo tính chất ưu đãi của các khoản vay làm phát sinh nợ công thì có 3 loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường.4 Các hình thức vay nợ của Chính phi.

Phát hành trái phiếu chính phủ: Đây là một cách dé Chính phủ các nước có thé vay nợ từ các tô chức, cá nhân. Thông thường, Chính phủ có thé phát hành trái phiếu băng đồng nội tệ (không có khả năng rủi ro tín dụng vì khi đáo hạn chính phủ có thé tăng thuế hay thậm chí là in thêm tiền để trả cả gốc và lãi) và phát hành trái phiếu bằng đồng ngoại tệ (chủ yếu là các đồng ngoại tệ có sức ảnh hưởng lớn) với khả năng rủi ro tín dụng cao bởi không đủ ngoại tệ trả nợ hay gặp phải rủi ro về tỷ giá hồi đoái. Vay trực tiếp. Đây là hình thức thường được các nước có “độ tin cậy tín dụng” thấp sử dụng.

Với hình thức này, Chính phủ các nước có cơ hội vay trực tiếp từ các ngân hàng thương mại hay các tô chức như Qũy tiền tệ quốc tế, .5 Ngưỡng của nợ công Thực tế, để kiểm soát được mức nợ công cũng như tình hình vay - nợ thì Chính phủ các nước sẽ đề ra ngưỡng nợ công an toàn làm giới hạn vay, trả nợ (thường không vượt quá 50-60% GDP). Tuy nhiên, mỗi nền kinh tế sẽ có mức an toàn riêng, không phải cứ tỷ lệ nợ công trên GDP thấp thì nợ công đang ở mức an toàn và ngược lại. Ngưỡng nợ công an toàn còn phụ thuộc vào sự mạnh, yếu của nền kinh tế quốc gia đó. Ví dụ, các nước phát triển thường có mức nợ công khá cao so với GDP (Nhật Bản: 230%GDP năm 2015, Mỹ: 78%GDP năm 2018) nhưng vẫn được coi là mức an toàn do có nền kinh tế phát triển mạnh với năng suất lao động cao.

Bên cạnh đó, những nước có nền kinh tế phát triển chậm có mức nợ công thấp hơn nhưng lại đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ (Argentina: 45%GDP năm 2001).6 Các chỉ tiêu đánh giá về sự an tòn của nợ công. - “Kha năng thanh toán nợ: phan ánh khả năng trả nợ, được đo bằng quy mô của khoản nợ theo GDP hay tổng thu ngân sách chính phủ hay giá trị xuất khẩu. Trong đó GDP phản ánh nguồn lực tổng thể của toàn bộ nền kinh tế, xuất khẩu cho biết thông tin lượng ngoại tệ có thể dùng dé thanh toán nợ, thu ngân sách thể hiện khả năng của chính phủ vào việc tạo ra nguồn lực tài chính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ