Chương 1. Cơ sở nghiên cứu va tổng quan nghiên cứu về tác động của nguồn vốn ODA đến nợ công tại Việt Nam - trình bày các khái niệm về nợ công, nguồn vốn vay ODA, mối quan hệ giữa chúng và tổng quan một số bài nghiên cứu liên quan đến bài nghiên cứu. Thực trạng nợ công từ nguồn vốn ODA ở Việt Nam - trình bay thực trạng nợ công, thực trạng nguồn vốn ODA và tác động của nguồn vốn ODA tới nợ công ở Việt Nam hiện nay, đánh giá chính sách thiết chặt vốn vay ODA để giảm nợ công của chính phủ Chương 3. Phân tích tác động của vốn vay ODA tới nợ công của Việt Nam-đưa ra mô hình và kết quả kiểm định về mối quan hệ của các biến số độc lập với biến tăng trưởng kinh tế.
Đề xuất và kiến nghị - đưa ra một số giải pháp nhằm quản lý nguồn vốn vay ODA hợp lý để cải thiện tình trạng nợ công của Việt Nam. GIỚI THIỆU CHUNG VE NO CONG VÀ ODA 1.1 Cơ sở lí thuyết về nợ công.1 Khai niệm: Nợ công hay còn gọi là nợ Chính phủ, nợ quốc gia, là một khái niệm khá khó dé định nghĩa. Do vậy, việc thống nhất một khái niệm chung về nợ công là điều vô cùng khó khăn. Tùy vào sự khác nhau trong việc quản lí, giám sát nợ công của mỗi nước cũng như của các tổ chức tài chính quốc tế mà định nghĩa về nợ công cũng có sự khác biệt.
Tuy nhiên, khái niêm nợ công được sử dụng rộng rãi nhất chính là khái niệm được IME và World Bank sử dụng. Theo Quỹ tiễn tệ quốc tế IMF (2010): “No công chính là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Đi cùng với nợ công bao gồm khu vực Chính phủ và tô chức công”. Tại Việt Nam, thì khái niệm nợ công có phạm vi hạn hẹp hơn so với quốc tế.
Theo luật quản lí nợ công được ban hành tháng 6/2009 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2010: “Nợ công bao gồm: Nợ Chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương”. Trong đó: - No Chính phủ: Là các khoản nợ được kí kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhưng không tính tới các khoản nợ do NHNN phát hành cho các hoạt động chính sách tiền tệ từng thời kì - No được Chính phủ bảo lãnh: La các khoản nợ vay cả trong và ngoài nước của các tổ chức, doanh nghiệp được Chính phủ đứng ra bảo lãnh. - No địa phương: Là các khoản nợ được kí kết hoặc ủy quyền phát hành của Chính quyền địa phương các cấp tỉnh, thành phô. Có thé hiểu nợ công là khoản vay nợ của Nhà nước để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội nhằm giúp phát triển đất nước trong khi mà các nguồn thu không thé đáp ứng được điều đó.2 Đặc điểm của nợ công.
a) Đặc trưng của nợ công Nợ công gồm những đặc trưng sau:. Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước: Nợ công là khoản nợ mà trong đó cơ quan Nhà nước có thâm quyền sẽ là người đứng ra đi vay hoặc co quan nhà nước có thẩm quyền sẽ đứng ra bảo lãnh cho một chủ thé 9 trong nước (các doanh nhiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đàu tư nhà nước 50%, hoặc các tổ chức chính phủ. Vi thé nợ công được xác định là khoản nợ mà Nhà nước có trách nhiệm trả nợ. 7 Nợ công được quản lí theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nha nước có thâm quyền.” Nợ công cần được quản lí chặt chẽ, có cơ chế kỷ luật hợp lí, với hai mục tiêu hàng đầu: + Bên đi vay cũng như bên cho vay phải đảm bảo được việc trả nợ của vốn vay của bên đi vay.
Đặc biệt, phải đảm bảo được cán cân tiền tệ cũng như cán cân thanh toán vĩ mô, và an ninh tài chính quốc gia. + Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích , đúng mục tiêu nhà nước đã đề ra, không gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn. e Phát triển kinh tế-xã hội của đất nước chính là mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng vốn vay. Nợ công được huy động và sử dụng là vì lợi ích chung của toàn xã hội không phải vì bat cứ cá nhân hay tổ chức riêng nào.
Với khẩu hiệu” Nhà nước là của dân, do dân và vì dân” nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, vì lợi ích chung của toàn xã hội mà cụ thé là dé phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất. b) Bản chất kinh tế của nợ công. Xét về bản chất kinh tế, nợ công phát sinh từ việc Nhà nước mong muốn hay bắt buộc chi tiêu vượt qua ngân sách nhà nước cho phép, chi tiêu lớn hơn khả năng thu ngân sách (thuế, phí, các khoản thu khác,. Nợ công chính là hệ quả của việc nhà nước tiễn hành đi vay vốn và nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả lại.
Trong kinh tế học cô điển, nguyên tắc ngân sách cân bằng hết sức được coi trọng, và được ghi nhận ở rất nhiều quốc gia hiện nay. Ngân sách cân sách cân bang là số chi mà chính phủ bỏ ra bằng với số mà chính phủ có thê thu lại. Cán cân ngân sách sẽ giúp cho chính phủ biết được tình hình chi tiêu của mình dé có cơ chế chi thu phù hợp, tránh trường hợp bội thu ngân sách cũng như lạm thu. Các nhà kinh tế học cô điển như A.Say là những người khởi xướng và ủng hộ nguyên tac ngân sách cân bang này trong quản lí tài chính công.
Và 10 chính vi thé, họ đã phản đối với việc Nhà nước có thé vay nợ dé chỉ tiêu sẽ làm thâm hụt cán cân ngân sách. Ngược lại với các nhà kinh tế học cô điển, một nhà kinh tế học được đánh giá có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thé ki XX là John là M.Keynes và những người ủng hộ việc đi vay dé chi tiêu của Chính phủ ( gọi là trường phái Keynes), vi họ cho rằng trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp,dẫn đến giảm sản lượng chung của toàn xã hội thì sẽ cần một bàn tay vô hình đầu tư vào các dự án đầu tư công cộng(đường xá cầu công,trường học,. thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư đóng góp tốt trở lại, nhằm khôi phục, ồn định và phát trién nền kinh tế. Và bàn tay đó Chính là nhà nước đi vay nợ dé dau tư, giúp nền kinh tế vượt qua thời kì khó khan.
Lí thuyết này được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của kinh tế.3 “Phân loại nợ công” “Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lí và sử dụng nợ công.” - — “ Theo tính chất nợ, Luật Quản lí nợ công số 29/2009/QH12,Nợ công được quy định trong luật này bao gồm nợ Chính phủ , nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ Chính quyền địa phương.” - Theo thoi han no + Ngan han: Thoi han cho vay < 1 nam + Trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1-10 năm + Dài hạn: Thời hạn cho vay >10 năm - Theo hình thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ từ thoả thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. + Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công được thông qua các hiệp định thỏa thuận giữa hai bên là Nhà nước Việt Nam với bên cho vay. +No công từ công cụ nợ là khoản nợ công phát sinh do Nhà nước phát hành các công cụ nợ như trái phiếu, cô phiếu. ` - Theo tính chất ưu đãi của các khoản vay làm phát sinh nợ công thì có 3 loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường.4 Các hình thức vay nợ của Chính phi.
Phát hành trái phiếu chính phủ: Đây là một cách dé Chính phủ các nước có thé vay nợ từ các tô chức, cá nhân. Thông thường, Chính phủ có thé phát hành trái phiếu băng đồng nội tệ (không có khả năng rủi ro tín dụng vì khi đáo hạn chính phủ có thé tăng thuế hay thậm chí là in thêm tiền để trả cả gốc và lãi) và phát hành trái phiếu bằng đồng ngoại tệ (chủ yếu là các đồng ngoại tệ có sức ảnh hưởng lớn) với khả năng rủi ro tín dụng cao bởi không đủ ngoại tệ trả nợ hay gặp phải rủi ro về tỷ giá hồi đoái. Vay trực tiếp. Đây là hình thức thường được các nước có “độ tin cậy tín dụng” thấp sử dụng.
Với hình thức này, Chính phủ các nước có cơ hội vay trực tiếp từ các ngân hàng thương mại hay các tô chức như Qũy tiền tệ quốc tế, .5 Ngưỡng của nợ công Thực tế, để kiểm soát được mức nợ công cũng như tình hình vay - nợ thì Chính phủ các nước sẽ đề ra ngưỡng nợ công an toàn làm giới hạn vay, trả nợ (thường không vượt quá 50-60% GDP). Tuy nhiên, mỗi nền kinh tế sẽ có mức an toàn riêng, không phải cứ tỷ lệ nợ công trên GDP thấp thì nợ công đang ở mức an toàn và ngược lại. Ngưỡng nợ công an toàn còn phụ thuộc vào sự mạnh, yếu của nền kinh tế quốc gia đó. Ví dụ, các nước phát triển thường có mức nợ công khá cao so với GDP (Nhật Bản: 230%GDP năm 2015, Mỹ: 78%GDP năm 2018) nhưng vẫn được coi là mức an toàn do có nền kinh tế phát triển mạnh với năng suất lao động cao.
Bên cạnh đó, những nước có nền kinh tế phát triển chậm có mức nợ công thấp hơn nhưng lại đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ (Argentina: 45%GDP năm 2001).6 Các chỉ tiêu đánh giá về sự an tòn của nợ công. - “Kha năng thanh toán nợ: phan ánh khả năng trả nợ, được đo bằng quy mô của khoản nợ theo GDP hay tổng thu ngân sách chính phủ hay giá trị xuất khẩu. Trong đó GDP phản ánh nguồn lực tổng thể của toàn bộ nền kinh tế, xuất khẩu cho biết thông tin lượng ngoại tệ có thể dùng dé thanh toán nợ, thu ngân sách thể hiện khả năng của chính phủ vào việc tạo ra nguồn lực tài chính.