Chương I được trình bay ở trên về lý do, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp phân tích của đề tài nghiên cứu. Các lý thuyết về năng suất lao động cũng như các bài nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu được trình bày trong chương 2. Chương 3 đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của các doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh bao gồm thực trạng tình hình phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và kết quả thực nghiệm chạy mô hình sử dụng bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp năm 2015. Cuối cùng, trong chương 4, bài nghiên cứu đưa ra kết luận và một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động của các doang nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới.
CHUONG 2: TONG QUAN VE NĂNG SUAT LAO ĐỘNG VA CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN NANG SUAT LAO DONG 2. Khái niệm va đo lường năng suất lao động 2. Năng suất Trong quá trình sản xuất, các nhà sản xuất luôn phải xem xét đến hiệu quả kinh tế, tức là luôn quan tâm đến tương quan giữa sản lượng đầu ra và chỉ phí đầu vào bỏ ra dé sản xuất sản phẩm. Có nhiều nguồn lực được sử dụng cho quá trình sản xuất như nguồn lực vật chất (máy móc, nhà xưởng, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu để sản xuất), nguồn lực con người, vốn tri thức.
Kết qua so sánh giữa đầu ra (giá trị hay hiện vật) với đầu vào là các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất sản phâm được gọi là năng suất. Ví dụ, trong lĩnh vực tài chính, số tiền lời thu được trên mỗi đồng vốn bỏ ra trong một thời gian nhất định được gọi là năng suất vốn hay hiệu quả sử dụng vốn; trong sản xuất, số sản phẩm được tạo ra từ một chiếc máy gọi là năng suât của chiéc máy đó. Trong khi đó, Ủy ban năng suất của hội đồng năng suất châu Âu có cái nhìn mới hơn về năng suất lao động. Họ cho rang năng suất là trạng thái thuộc về tư duy, là thái độ nhằm mục đích tìm kiếm những gi đang hiện hữu.
Tuy nhiên, có một sự thật rằng, con người của hôm nay có thé làm được những việc tốt hơn những gì hôm qua đã làm và ngày mai sẽ còn tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa, điều này đòi hỏi phải có những nỗ lực phi thường, những thay đôi không ngừng nhằm thích nghỉ với các hoạt động kinh tế luôn thay d6i theo thời gian, luôn tìm tòi, học hỏi, áp dụng các lý thuyết và các phương pháp mới vào trong hoạt động sản xuất. Đây là điều trong thé thiêu trong quá trình tiên hóa của con người. Năng suất lao động Theo C.
Mác, ông định nghĩa năng suất lao động là “sức sản xuất của lao động cụ thé có ich”. Theo quan điểm truyền thong: Kết quả của hoạt động san xuất hữu ích của con người trong một đơn vi thời gian lao động cu thể là sự thể hiện của năng suất lao động. lao động gồm hai loại lao động sống tức là những lao động của con người làm ra sản phamở thời điểm hiện tai, và lao động trong quá khứ được kết tinh trong các hiện vật như máy móc thiết bị hay vật liệu, nó thể hiện sức lao động của con người bỏ ra trong quá khứ. Theo quan điểm này năng suất lao động cho thay hiệu quả của việc sử dụng lao động sống trong quá trình hoạt động sản xuất được thể hiện thông 4 qua số lượng sản phẩm được làm ra trong một khoảng thời gian lao động hoặc được tính bằng lượng thời gian lao động hao phí bỏ ra dé tạo ra được một đơn vi sản phẩm.
Một khái niệm khác về năng suất lao động được đưa ra bởi OECD (tô chức hợp tá và phát trên kinh té-Organizaton for Economic Co-operation and Development) in trong quyền sách “Do lường năng suất, do lường tốc độ tăng năng suất tổng thé và năng suất ngành ,2002” cho rằng năng suất lao động là “tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào”, ở đây đầu ra của hoạt động sản xuất thường được do bằng giá trị tong sản phẩm quốc nội hoặc tông giá trị gia tăng. Còn đầu vào của quá trình sản xuất ý chỉ lao động được đo lường băng số giờ công lao động hoặc số lượng lao động làm việc. Theo định nghĩa chung của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), giải thích về năng suất lao động đơn giản là tỷ lệ giữa khối lượng đầu ra và khối lượng đầu vào được sử dụng. Như vậy, dưới góc nhìn dựa trên quan điểm truyền thống thì năng suất lao động chỉ được hiểu một cách đơn giản đó là mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra thu được và yếu tố đầu vào lao động.
Tức là ta có thể hiểu một cách đơn giản cứ một đơn vi lao động sản xuất ra được lượng sản phâm nhiều hơn một đơn vị lao động trước đó cho là có năng suất lao động cao hơn. Tuy nhiên, với quan điểm hiện đại, họ không chỉ định nghĩa khái niệm năng suất lao động thuần túy như vậy, họ có cái nhìn bao quát hơn, các nhà kinh tế cho răng việc tăng năng suat lao động không chỉ là làm tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Vậy ta có thé hiểu rang với cùng một lượng lao động không đổi ta có thé sản xuất ra lượng sản phâm nhiều hơn, bên cạnh đó chất lượng sản phẩm không kém đi thậm chí tốt hơn các sản phẩm trước đó. Với cách nhìn mới này, năng suất lao động không đơn thần phụ thuộc vào số lượng sản phâm đầu ra mà nó còn cho thấy hiệu quả trong quá trình sản xuất cho ra các sản phâm có chất lượng cao.
Ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, người ta thường phải đánh đổi giữa việc tạo ra nhiều sản phẩm hơn tức năng suất cao hơn với chất lượng sản pham làm ra, tạo ra nhiều sản phẩm đồng nghĩa với việc sản phẩm tạo ra sẽ có chất lượng kém hơn do bỏ ra ít công sức và thời gian hơn và ngược lại, ít sản phâm hơn chất lượng mỗi sản phẩm tốt hơn. Những đến ngày này, nhờ có sự tiễn bộ không ngừng của khoa hoc công nghệ, những phát minh, sáng kiến của con người, năng suất và chất lượng song hành với nhau. Không chỉ dừng lại ở việc tạo ra nhiều sản phẩm hơn, các sản phẩm làm ra phải đáp ứng được các nhu cầu về tham my của con người, tiết kiệm lao động quá khứ. Đặc biệt gần đây, 5 do tinh trạng ô nhiễm môi trường ngày càng đe dọa đến sự sông của con người thì các sản phẩm thân thiện với môi trường càng ngày được quan tâm.
Như vậy, khái niệm năng suất lao động theo cách tiếp cận mới này tạo ra nhiều lợi ích hơn cho các tác nhân trong nền kinh tế không chỉ chủ doanh nghiệp, lao động mà còn cho khách hàng cũng như xã hội c. Ýnghĩa của tăng năng suất lao động Ngày nay, năng suất lao động ngày càng có vai trò quan trọng trong tiến trình phát trién của xã hội, nó không chỉ phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp, nó còn là một trong những nhân tổ quan trọng cho thấy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Ngoài ra, NSLĐ còn là yếu tố phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, thúc đây cho quá trình đổi mới sáng tao không ngừng của con người. Năng suất lao động là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ sản xuất và quan lý của một tô chức, một doanh nghiệp.
Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố ví dụ như chất lượng vốn nhân lực, chất lượng vốn vật chất, môi trường làm việc hay điều kiện tự nhiên. Việc tăng năng suất lao động có ý nghĩa to lớn trong chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cho xã hội. e Tăng năng suất lao động giúp các doanh nghiệp sử dung hợp lý hơn các nguôn lực từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, hạ giá cả, tăng sức cạnh tranh, tăng đầu tư, tăng lợi nhuận, lao động được trả công nhiều hơn, qua đó góp phần nâng cao đời sống cho họ. e_ Đối với từng người lao động, năng suất lao động còn có vai trò thiết thực giúp tăng thu nhập thêm vào đó là tạo nên mối quan hệ gắn kết hơn giữa lao động với chủ doanh nghiệp.
e Năng suất lao động cũng tạo điều kiện làm giảm lượng thời gian lao động hao phí trong quá trình sản xuất vật chất, do đó không chỉ đáp ứng nhu cầu về vật chat mà còn thỏa mãn nhu cầu tinh thần của người lao động, giúp họ có động lực làm việc, phát triển bản thân. e Năng suất lao động góp phan quan trọng trong tiến trình phát triển của loài người. Một xã hội phát triển không thể thiếu nâng cao năng suất lao động, đây là động lực tạo ra vat chat cho xã hội, giúp xã hội hiện dai, phát triển hơn, đáp ứng nhu câu ngày càng lớn của con người. Do lường năng suất lao động Trong một tài liệu do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) ban hành hướng dan dé đo lường năng suất, dé đánh giá năng suất lao động, người ta áp dụng hai thước đo chính: tổng sản lượng và dựa trên giá trị sản phẩm (Phạm Thi Bích Ngọc và Nguyễn Hữu Văn Phước ,2016).
Năng suất lao động được do lường bằng cách sử dụng tong sản lượng Năng suất lao động dựa trên tông sản lượng thích hợp trong việc đo lường năng suất lao động ở cấp độ các doanh nghiệp công nghiệp bởi vì nó cho thấy tỷ lệ giữa nhu cầu lao động và sản lượng vật chat tạo ra, được biểu diễn theo công thức sau: Năng suất lao động = Tổng sản lượng / Số lượng lao động dau vào Bằng cách sử dụng công thức này, tăng trưởng năng suất lao động phụ thuộc vào tỷ lệ giữa đầu vào trung gian và sự thay đôi lao động sử dụng. Ví dụ với dịch vụ thuê lao động bên ngoài, khi một công ty sử dụng dịch vụ này, nó sẽ được coi là đầu vào trung gian vì nó thay thé các yếu tố chính trong quá trình sản xuất bao gồm cả lao động. Kết quả của sự thay thế này là làm giảm đầu vào lao động dẫn đến tăng năng suất lao động. Ngược lại, khi công ty ngừng sử dụng thuê ngoài, số lao động sử dụng tăng và năng suất lao động sẽ giảm.