Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cỗ phần công nghệ T-Tech Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở công ty cỗ phần công nghệ T-Tech Việt Nam. SV: Nguyễn Thị Hà 1 Lép: Tài chính quốc tế 53 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phùng Thanh Quang CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE HIEU QUA SU DUNG VON LUU DONG CUA DOANH NGHIEP 1.
Khái quát chungvề vốn lưu động của doanh nghiệp 1.Von lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động a. Khái niệm vốn lưu động Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định còn phải có các tai sản lưu động (TSLD) tùy theo loại hình doanh nghiệp ma cơ cau của TSLĐ khác nhau. Tuy nhiên đối với doanh nghiép sản xuất TSLD được cấu thành bởi hai bộ phận là TSLD sản xuất và tài sản lưu thông.
- TSLĐ sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dữ trữ sản xuất như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu.và tài sản ở khâu sản xuất như bán thành phẩm, sản phẩm đở dang, chỉ phí chờ phân bổ. - Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được tiêu thụ(hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu. Dé đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng TSLD nhất định. Do vậy, dé hình thành nên TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động.
Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra dé hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyên toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh. Đặc điểm của vốn lưu động Vốn lưu động của các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình SV: Nguyễn Thị Hà 2 Lép: Tài chính quốc tế 53 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phùng Thanh Quang tuần hoàn, chu chuyền của vốn lưu động.
Vốn lưu động có hai đặc điểm: Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyên hết một lần vào giá trị sản phẩm dé cấu thành nên giá trị sản phẩm. Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay d6i hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất,rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vôn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyền.
Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm tài chính, sự vận động của vốn lưu động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. Vòng quay của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp. Thành phan và kết cấu vốn lưu động a. Thanh phan vốn lưu động * Tiền Ở đây tiền (hay vốn bằng tiền) không phải chỉ là tiền mặt, nhiều người nhằm lẫn khái niệm Cash trong tiếng Anh và cho nó đồng nghĩa với khái niệm tiền mặt trong tiếng Việt.
Theo ngôn ngữ Việt Nam,“ tiền mặt” không bao gồm tiền gửi ngân hàng. Khi các doanh nghiệp thanh toán bằng séc hoặc chuyển khoản thì được gọi là thanh toán không dùng tiền mặt. Trong lĩnh vực tài chính- kế toán, tài sản bằng tiền “cash” của một công tyhay doanh nghiệp bao gồm: +Tiền mặt +Tién gửi ngân hang +Tiền dưới dạng séc các loại +Tién trong thanh toán +Tién trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM SV: Nguyễn Thị Hà 3 Lép: Tài chính quốc tế 53 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phùng Thanh Quang * Vang,bac, da quy va kim khi quy Day là nhóm tài sản đặc biệt, chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ. Tuy vậy, trong một số ngành như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, trị giá kim cương, đá quý, vàng bạc,vv.có thê rất lớn.
* Các tài sản tương đương với tiễn Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyên đổi cao, tức là dễ bán, dé chuyên đỏi thành tiền khi cần thiết.Tuy nhiên, không phải tất cả các loại chứng khoán đều thuộc nhom này.Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới được coi là TSLĐ thuộc nhóm. Ngoài ra, các giấy tờ thương mại ngắn hạn được bảo đảm có độ an toàn cao thì cũng thuộc nhóm này. Ví dụ: hối phiếu ngân hàng, kỳ phiếu thương mại, bộ chứng từ hoàn chỉnh. * Chi phi trả trước Chi phí trả trước gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác.Một số khoản trả trước có thé có mức độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó đoán trước.
* Các khoản phải thu Các khoản phải thu là một tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty kinh doanh thương mại. Hoạt động mua bán chịu giữa các bên, phat sinh các khoản tín dụng thương mại. Thật ra,các khoản phải thu gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua bán, quan hệ hợp đồng. Theo mức độ rủi ro thì các khoản phải thu có thé chia thành các loại như sau: - Độ tin cậy cao (loại A) -Độ tin cậy trung bình (B) - Độ tin cậy thấp (C) - Không thể thu hồi được (D) * Tiên đặt cọc Trong nhiều trường hợp, các bên liên quan đến hợp đồng phải đặt cọc một khoản tiền nhất định.
Phần lớn các điều khoản về tiền đặt cọc quy định theo 2 cách: + Số tiền đặt cọc tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng hoặc giá trị tài sản SV: Nguyễn Thị Hà 4 Lép: Tài chính quốc tế 53 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phùng Thanh Quang duoc mua ban. + Số tiền đặt coc được ấn định bang một số tiền cụ thé, hoặc một giá tri tối thiêu cho hợp lý. Trong trường hợp bên đặt cọc thực hiện đúng hợp đồng thì họ sẽ được lay lại tiền đặt cọc.Nếu như có sự vi phạm hợp đồng hoặc không tiếp tục tham gia nữa, thì họ có thé mat số tiền đã đặt cọc. Tiền đặt cọc là một tài sản không chắc chắn và độ tin cậy có thể dao động lớn.
Do tính chất là một tài sản bảo đảm như vậy nên mặc dù tiền đặt cọc thuộc tài sản lưu động nhưng nó không được các ngân hàng tính đến khi xác định khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp. * Hàng hoá vật tư Hàng hoá vật tư được theo dõi trong một tài khoản được gọi là hàng tồn kho. “Hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ đọng, không bán được mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Nó gồm nhiều chủng loại khác nhau: -NVL chính - NVL phụ và vật liệu bổ trợ - Nhiên liệu và các loại dầu mỡ - Thành phâm - Thành phâm dở dang và bán thành pham - Công cụ nhỏ, các dụng cụ lao động thuộc tài sản lưu động - Phụ tùng thay thế - Các sản phẩm hỏng và thay thé.
* Các chỉ phí chờ phân bồ Trong thực tế, một khối lượng nguyên vật liệu và một số khoản chỉ phí đã phát sinh nhưng có thể chưa được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ.Những khoản này sẽ được đưa vảo giá thành trong khoảng thời gian thích hợp. SV: Nguyễn Thị Hà 5 Lép: Tài chính quốc tế 53 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phùng Thanh Quang b. Kết cau von lưu động Kết cấu vốn lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành phan trong tông s6v6n lưu động của doanh nghiệp.Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về VLĐ mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLD có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
Mặt khác, thông qua việc đánh giá vàtìm hiểu sự thay đổi kết cấu VLD trong những thời kỳ khác nhau có thé thay được những biến đổi tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong công tác quản ly VLD của từng doanh nghiệp. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động, có thể quy thành 3 loại là: + Những nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phâm: Khoảng cách giữa các doanh nghiệp với nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp. + Những nhân tố về mặt thanh toán: Phương thức thanh toán được lựa chọn theo hợp đồng bán hàng, thủ tục thanh toán. + Những nhân tố về mặt sản xuất: Các doanh nghiệp có quy mô sản xuất khác nhau, tính chất sản xuất khác nhau, trình độ sản xuất khác nhau, chu kỳ sản xuất khác nhau, trình độ phức tạp của chu kỳ sản phẩm và những yêu cầu về NVL, điều kiện sản xuất có ảnh hưởng đến sự khác nhau về tỉ trọng VLĐ bỏ vào khâu dự trữ sản xuất và khâu sản xuất.
Vai trò của vốn lưu động Vốn lưu động trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt động và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời, ton tại và phát triển của các doanh nghiệp.