CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CHAT LƯỢNG GIÁO DỤC VA TANG TRUONG KINH TE 1.1 Co sở lý thuyết 1. Các khái niệm Nguồn nhân lực: hay nguồn lao động là dân số có khả năng lao động cả về tri lực và thể lực. Hay nói cách khác đó là một phần dân cư đang làm việc và không làm việc nhưng có khả năng lao động (15 tuổi trở lên). Từ khái niệm đó có thể hiểu rằng, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực nào và ca những người không làm việc nhưng có khả năng lao động.
Tóm lại nguồn nhân lực bao gồm những người đang lao động thực tế và những người có tiềm năng lao động. Chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là “trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yêu tố cau thành bên trong của nguôn nhân lực. Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng được thé hiện ở quy mô và tốc độ.
Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu đo lường kết quả sản xuất và dịch vụ của nến kinh tế (theo mô hình hạch toán thu nhập của hệ thong tai khoan quéc gia) va được tính cho toàn thé nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người. Lý thuyết kinh tế Mô hình tăng trưởng nội sinh: Những hạn chế của mô hình tăng trưởng Solow là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời một loạt mô hình tăng trưởng (vẫn dựa trên khuôn khổ lý thuyết Tân cổ điển) được gọi là các mô hình tăng trưởng nội sinh.
Kê từ cuối những năm 1980 đến nay, nhiều mô hình đã được xây dựng với mục đích làm sáng tỏ cơ chế nội sinh thúc day tăng trưởng kinh tế như đầu tư có thé dẫn tới tăng trưởng liên tục. Y nghĩa dé nhận thấy các mô hình tăng trưởng nội sinh là: Tốc độ tăng trưởng dài hạn có thể phụ thuộc vào hành động của chính phủ. Có thé phân biệt hai nhánh chủ yếu trong các lý thuyết và mô hình tăng trưởng nội sinh. Nhánh thứ nhất ra đời từ những bài viết của Arrow (1962) và Romer (1990).Trong những mô hình này, các nhà kinh tế đưa ra quan điểm cho rằng lực lượng thúc day tăng trưởng là sự tích lũy kiến thức, chúng có ý nghĩa khác nhau liên quan đến các yếu tổ xác định tốc độ tăng trưởng trạng thái dừng của một nền kinh tế.
Ở nhánh thứ hai của các mô hình tăng trưởng nội sinh, các nhà kinh tế như Lucas ( 1988), Rebelo ( 1991), Mankiw, Romer và Weil (1992). lại có cái nhìn rộng hơn về vốn,cho rằng vốn bao gồm cả vốn con người. Một số đại diện tiêu biểu cho hai nhánh mô hình tăng trưởng nội sinh kể trên, bao gồm: (1) Mô hình học hỏi của Kenneth J. Arrow, (2) Mô hình R&D cua Paul M.
Romer, (3) Mô hình vốn con người của N. Gregory Mankiw, David Romer và David N. Weil, (4) Mô hình AK cua Sergio Rebelo (5) M6 hinh hoc hay lam cua Robert Lucas Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh có thé được thé hiện bằng một phương trình đơn giản: y=AK Trong đó: A có thé là bat cứ nhân tố nào tác động đến công nghệ K là cả vôn nhân lực và tự nhiên. Các mô hình tích lũy kiến thức đã có đóng góp nhất định trong việc giải thích nguồn gốc tăng trưởng từ tiến bộ công nghệ nội sinh, nhưng việc giả định công nghệ không có tính cạnh tranh - tức là mội quốc gia đều có thé tiếp cận công nghệ mới, các mô hình này không thé giải thích được sự chênh lệch về thu nhập giữa các nước.
Vì vậy, để giải thích sự chênh lệch này người ta thường nhấn mạnh các mô hình về vốn con người. Mặc dù các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn đề cao vai trò của tiết kiệm đối với tăng trưởng của nền kinh tế, nhưng các kết luận của mô hình này có nhiều điểm trái ngược với mô hình của Solow. Đặc biệt là ở chỗ mô hình này cho thấy không có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ là vôn vật chât, mà quan trọng hơn là vôn con người.
Về nguyên tắc, mô hình vốn con người nhất quán với băng chứng trên thế giới, là các nước nghèo sẽ tiếp tục bị trì trệ. Tuy nhiên, dự báo về các nước nghèo không hoàn toàn bi quan. Bởi vì tốc độ tăng trưởng là nội sinh, mô hình chỉ ra một con đường thoát khỏi nghèo đói: một nước đầu tư nhiều vào nguồn nhân lực hơn sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay thế giới dùng chỉ tiêu HDI dé đánh giá trình độ phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia trên ba phương diện: mức độ phát triển kinh tế, giáo dục và y tế.
Các mặt này tương ứng được xác định bởi các chỉ tiêu: - GDP thực bình quân đầu người hàng năm tính theo sức mua ngang giá - Kiến thức (ty lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục) - Tuổi thọ bình quân Phương pháp tính chỉ tiêu HDI: HDI = Ÿ l¿ * Ie * ly Trong đó: I, là chỉ số tudi thọ Ie là chỉ số kiến thức Iw là chỉ số thu nhập 12. Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguôn nhân lực Sức khỏe của nguồn nhân lực là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người. Dé phản ánh điều đó có nhiều chỉ tiêu biểu hiên như: Tiêu chuẩn do lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tâm thần, tai , mũi , họng.Bên cạnh đó việc đánh giá trạng thái sức khỏe còn thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ sinh, chết, biến động tự nhiên, tudi thọ trung bình, cơ cau giới tinh. Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hoá của nguồn nhân lực Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực được thé hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ: - Số lượng và tỷ lệ biết chữ - Số lượng va ty lệ người qua các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, cao đăng, đại hoc, trên đại học.
Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó. Đó cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật như: - Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đảo tạo - Cơ cấu lao động được dao tao: + Cấp đào tạo + Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn + Trình độ đào tạo( cơ cấu bậc thợ. Các bài nghiên cứu liên quan Altinok (2007) đã tiễn hành nghiên cứu tương quan giữa chất lượng vốn con người với tăng trưởng kinh tế, dựa vào một tập hợp các khảo sát quốc tế về đánh giá năng lực học sinh, được xem là tiêu chí đại diện cho chất lượng nguồn nhân lực, gồm các chỉ tiêu về kỹ thuật, toán học, các môn khoa học và đọc hiểu.
Đây là nghiên cứu đầu tiên về chất lượng giáo dục khi sử dung dit liệu mảng và sử dụng dit liệu chéo của 120 quốc gia trong giai đoạn 1960-2005. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra tác động tích cực của chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1960-2000; đồng thời cũng hàm ý về chất lượng nguồn nhân lực trước hết được quyết định bởi chất lượng giáo dục, yếu tố hàng đầu bảo đảm tính bền vững của tăng trưởng, bảo đảm phát triển bền vững kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Hanushek và Ludger W6fBmann ( 2007), đã chỉ ra tac động của chất lượng giáo dục đến tăng trưởng kinh tế. Các tác giả đã chỉ ra rõ thay vì chỉ tiếp cận giáo dục, thì chất lượng giáo dục mới thực sự tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu về tăng trưởng kinh tế và kỹ năng nhận thức của sinh viên dé làm nổi bật những van dé cấp thiết của chất lượng giáo dục. Tác giả nghiên cứu sâu về vấn đề kết quả học tập ở các nước đang phát triển và duy trì mối quan tâm đến sự tăng triển về mặt kinh tế của các nước này. Bài nghiên cứu thuộc chương trình giáo duc của Ngân hàng Thế giới.Kong Jin (2010), đã nghiên cứu dựa trên số liệu kinh tế vĩ mô từ 1979-2004 dé thực hiện kiểm định Granger mối quan hệ nhân quả giữa sự bình đăng trong giáo dục và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, sau đó xây dựng mô hình hồi quy. Kết quả nghiên cứu chi ra rằng sự bình dang trong giáo dục có mối quan hệ đồng biến với chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong đó sự bình đăng trong giáo dục được đo bằng hệ số GINI trong giáo dục và chất lượng tăng trưởng kinh tế được đo bằng TFP.
Cơ chế tác động được mô tả là: sự bình dang trong giáo dục sẽ cải thiện sự tích lũy vốn con người, tối ưu hóa cấu trúc vốn con người, gia tăng kết quả của đầu tư vào giáo duc và cải thiện các gắn kết xã hội. Tat cả các tác động trên cuối cùng đều phản ánh vào hiệu quả của TFP. Isola và Alani (2005) đã nghiên cứu về tác động của nguồn nhân lực lên tăng trưởng kinh tế tại Nigeria, dựa trên các yếu tô về sức khỏe và giáo dục: Số người lớn biết chữ, tuôi thọ bình quân, nguồn vốn đầu tư, tăng trưởng người lao động, và biến phụ thuộc là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn 1982 đến 2005 đã chỉ ra chỉ có yếu tô số người lớn biết chữ có tác động tới tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa 5%. Tác động của số người biết chữ mang dấu (+) cho thấy việc càng nhiều người biết chữ sẽ làm cho tăng sự phát triển kinh tế.