Nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược

Luận án nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

298
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Mục đích nghiên cứu

0.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng nghiên cứu

0.4. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Giả thuyết khoa học

0.6. Ý nghĩa khoa học của luận án

0.7. Ý nghĩa thực tiễn của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học và phát triển các môn Võ cổ truyền Việt Nam

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thể chất và thể thao trường học trong các trường Đại học - Cao đẳng

1.3. Một số vấn đề cơ bản về công tác thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp

1.4. Một số vấn đề cơ bản về xây dựng chương trình ngoại khóa môn Võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam

1.5. Đặc điểm, phân loại, nội dung cơ bản về môn Võ cổ truyền Việt Nam

1.6. Các công trình nghiên cứu có liên quan

1.7. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Tổ chức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam

3.2. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1

3.3. Xây dựng chương trình ngoại khóa môn Võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam

3.4. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2

3.5. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình ngoại khóa môn Võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam

3.6. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về chương trình ngoại khóa võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên y dược

Chương trình ngoại khóa võ cổ truyền Việt Nam đang ngày càng trở nên phổ biến trong các trường đại học, đặc biệt là tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam. Môn võ này không chỉ giúp sinh viên nâng cao sức khỏe mà còn phát triển các kỹ năng sống cần thiết. Việc tham gia vào các hoạt động ngoại khóa này mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên, từ việc rèn luyện thể chất đến việc phát triển tinh thần đồng đội và kỷ luật.

1.1. Lợi ích của võ cổ truyền Việt Nam đối với sinh viên y dược

Võ cổ truyền Việt Nam giúp sinh viên y dược cải thiện sức khỏe, tăng cường thể lực và phát triển các kỹ năng mềm như giao tiếp và làm việc nhóm. Nghiên cứu cho thấy, việc tập luyện võ thuật có thể giảm căng thẳng và cải thiện tinh thần học tập của sinh viên.

1.2. Vai trò của chương trình ngoại khóa trong giáo dục

Chương trình ngoại khóa không chỉ là nơi để sinh viên giải trí mà còn là một phần quan trọng trong giáo dục toàn diện. Nó giúp sinh viên phát triển kỹ năng sống, nâng cao nhận thức về sức khỏe và thể chất, đồng thời tạo ra môi trường học tập tích cực.

II. Thách thức trong việc triển khai chương trình ngoại khóa võ cổ truyền

Mặc dù chương trình ngoại khóa võ cổ truyền Việt Nam mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc triển khai. Các vấn đề như thiếu cơ sở vật chất, sự quan tâm chưa đầy đủ từ phía nhà trường và sinh viên chưa nhận thức rõ về lợi ích của việc tập luyện võ cổ truyền là những rào cản lớn.

2.1. Thiếu cơ sở vật chất và trang thiết bị

Nhiều trường đại học vẫn chưa đầu tư đầy đủ vào cơ sở vật chất cho các hoạt động thể thao, bao gồm võ cổ truyền. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tập luyện và sự tham gia của sinh viên.

2.2. Nhận thức của sinh viên về võ cổ truyền

Một số sinh viên vẫn chưa nhận thức rõ về lợi ích của việc tập luyện võ cổ truyền. Việc nâng cao nhận thức này là cần thiết để thu hút nhiều sinh viên tham gia hơn vào các hoạt động ngoại khóa.

III. Phương pháp xây dựng chương trình ngoại khóa võ cổ truyền hiệu quả

Để xây dựng một chương trình ngoại khóa võ cổ truyền hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Việc thiết kế chương trình cần dựa trên nhu cầu và đặc điểm của sinh viên, đồng thời kết hợp với các hoạt động giáo dục thể chất khác.

3.1. Nguyên tắc thiết kế chương trình

Chương trình cần được thiết kế dựa trên các nguyên tắc như tính khả thi, tính hấp dẫn và tính phù hợp với nhu cầu của sinh viên. Điều này sẽ giúp tăng cường sự tham gia và hiệu quả của chương trình.

3.2. Kết hợp với các hoạt động thể chất khác

Việc kết hợp võ cổ truyền với các môn thể thao khác sẽ tạo ra sự đa dạng trong chương trình, giúp sinh viên có nhiều lựa chọn và tăng cường sự hứng thú trong tập luyện.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về võ cổ truyền

Nghiên cứu cho thấy, việc tham gia vào chương trình ngoại khóa võ cổ truyền đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho sinh viên. Các sinh viên tham gia thường có sức khỏe tốt hơn và đạt kết quả học tập cao hơn so với những sinh viên không tham gia.

4.1. Kết quả khảo sát về sức khỏe sinh viên

Khảo sát cho thấy, sinh viên tham gia tập luyện võ cổ truyền có chỉ số sức khỏe tốt hơn, giảm tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện tâm lý. Điều này chứng tỏ hiệu quả của chương trình trong việc nâng cao sức khỏe.

4.2. Tác động đến kết quả học tập

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa có kết quả học tập tốt hơn. Việc rèn luyện thể chất giúp cải thiện khả năng tập trung và giảm stress trong học tập.

V. Kết luận và tương lai của chương trình ngoại khóa võ cổ truyền

Chương trình ngoại khóa võ cổ truyền Việt Nam cho sinh viên y dược có tiềm năng lớn trong việc nâng cao sức khỏe và phát triển kỹ năng sống. Để chương trình này phát triển bền vững, cần có sự đầu tư và quan tâm từ các cấp quản lý giáo dục.

5.1. Định hướng phát triển chương trình

Cần xây dựng các kế hoạch dài hạn cho chương trình, bao gồm việc nâng cấp cơ sở vật chất và tăng cường đào tạo giáo viên hướng dẫn. Điều này sẽ giúp chương trình ngày càng hoàn thiện và thu hút nhiều sinh viên hơn.

5.2. Khuyến khích sự tham gia của sinh viên

Cần có các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức của sinh viên về lợi ích của võ cổ truyền. Việc tổ chức các sự kiện thể thao và thi đấu sẽ tạo động lực cho sinh viên tham gia nhiều hơn.

27/07/2025
Luận án nghiên cứu xây dựng chương trình ngoại khóa môn võ cổ truyền việt nam cho sinh viên học viện y dược học cổ truyền việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học và phát triển các môn Võ cổ truyền Việt Nam 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học Thể dục thể thao trường học bao gồm hoạt động GDTC bắt buộc và hoạt động TDTT tự nguyện của HS, SV trong trường học các cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận cơ bản và quan trọng của nền TDTT nước ta. Vấn đề này đã được làm rõ trong các văn bản pháp qui của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực GDTC và thể thao trường học [11],[67].

Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 tại Điều 41 đã quy định: "Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trong hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [52]. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, tại Điều 37 đã quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc” [53]. Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã giao trách nhiệm cho Bộ GD&ĐT và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo GV TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về CSVC để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết HSSV, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia [1].

Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn trong công tác TDTT của thời kỳ 9 đổi mới. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng, tinh thần phấn khởi. Vận động TDTT là biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà.

Đó chính là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam [2], [4]. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011, trong các văn kiện và nghị quyết Đại hội, Trung ương đều nêu quan điểm chỉ đạo công tác TDTT trong cả nhiệm kỳ. Đồng thời trong một số nhiệm kỳ, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị, nghi ̣quyết chuyên đề về công tác TDTT [3],[4]. Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua là Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000 [54].

Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006, Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, công tác TDTT trường học nói riêng [56]. Không chỉ lãnh đạo TDTT và GD&ĐT bằng đường lối, chính sách, Nhà nước còn đề ra những giải pháp chỉ đạo thực hiện hiệu quả. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh công tác xã hội hóa (XHH) GD và TDTT.

Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT (2005) về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các ngành đẩy mạnh công tác XHH, làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia các hoạt động và đầu tư các nguồn lực để phát triển công tác GDTC và phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc tế [63]. Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006: GDTC và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính: 10 “Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”. Nội dung này còn được gọi là Thể dục nội khóa; “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức NK phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao”, còn được gọi là TDTT NK [57].

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, HS, SV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [67]. Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học. Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao NK của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động NK còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động thể thao NK”. Trong Chiến lược đã nêu ra các chỉ tiêu: đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và HDV TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao NK, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [64].

Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030, trong đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC. Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học Thể dục chính khóa, các hoạt động thể thao NK cho HS, xây dựng chương 11 trình GDTC hợp lý.” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [64tr. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011 về việc Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 nêu: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ TDTT; tăng cường CSVC, đẩy mạnh NCKH, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT” [3]; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, SV. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện TDTT…; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác TDTT” [66].

Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong trường học các cấp; đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay. GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và TDTT trong trường học các cấp cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển các môn thể thao dân tộc và Võ cổ truyền Việt Nam Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và phát triển các môn thể thao dân tộc, VCTVN của nền TDTT mới, góp phần vào việc GDTC cho thanh, thiếu niên, HSSV.

12 Thể thao dân tộc được coi là một bộ phận của nền văn hoá nhân loại, là một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc nền TDTT mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ