ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, cùng với quá trình phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời ngày đƣợc cải thiện. Tuy nhiên, cùng với sự những thay đổi tích cực về kinh tế - xã hội kéo theo, lƣợng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị và các nông thôn cũng ngày càng gia tăng. Chải thải rắn là sản ph m tất yếu của cuộc sống và đƣợc phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt cũng nhƣ các hoạt động vui chơi giải trí của con ngƣời. Bên cạnh đó, chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn chƣa đƣợc sự quan tâm đúng mực của mọi ngƣời dân và sự quản lý sát sao của các cấp chính quyền.
Vấn đề ô nhiễm từ rác thải sinh hoạt đang trở thành tâm điểm đƣợc quan tâm hàng đầu về môi trƣờng tại các khu vực nông thôn. Do đó, việc quản lý hợp lý chất thải rắn tại các khu vực nông thôn đang là vấn đề cấp bách của xã hội. Để quản lý chất thải rắn, đã có nhiều biện pháp đƣợc đƣa ra nhƣng phần lớn vẫn chƣa mang lại hiệu quả cao. Quản lý chất thải sinh hoạt không chỉ là công tác của các nhà quản lý mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Để mỗi cá nhân có thói quen cũng nhƣ ý thức tự giác tham gia trong việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt thì công tác giáo dục và truyền thông nâng cao nhận thức là quan trọng và cần thiết. Đặc biệt, việc giáo dục nâng cao nhận thức cần đƣợc bắt đầu từ các bậc học, nhất là đối với các học sinh bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục môi trƣờng không chỉ là giảng dạy, mà còn là khích lệ sự hào hứng, tạo điều kiện để học sinh quan sát và khám phá những vấn đề xung quanh. Từ đó, bƣớc đầu làm nảy nở tình yêu môi trƣờng trong mỗi học sinh và thói quen ban đầu về vệ sinh môi trƣờng trong cuộc sống.
Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy, hiện nay tại khu vực xã Hòa Nam, công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn chƣa đƣợc thực hiện, cũng nhƣ các hoạt động khác nhƣ tiết giảm - tái sử dụng - tái chế cũng chƣa đƣợc đ y mạnh, chất thải rắn sinh hoạt tại địa phƣơng mới chỉ dừng lại ở công tác thu gom và vận chuyển đến nơi khác xử lý. Vấn đề chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực hiện nay đang gây ra các tác động đến môi trƣờng sống của ngƣời dân và ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết tại khu vực. Ngoài hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt thực hiện bởi cơ quan chuyên trách chƣa thực sự hiệu quả, công tác giáo dục và truyền thông về vấn đề này cũng chƣa đƣợc thực hiện hay chƣa nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà quản lý. Do vậy, sự kết hợp giữa giáo dục và truyền thông môi trƣờng s góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng đối với môi trƣờng.
1 Nhận thức đƣợc ý ngh a sâu sắc về vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng cũng nhƣ nh m hỗ trợ, hoàn thiện hoạt động giáo dục và truyền thông môi trƣờng tại khu vực, tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng chư ng tr nh giáo dục v truyền th ng m i trường về quản l chất thải rắn sinh hoạt cho học sinh tiểu học v trung học c s tại x Hòa Nam, huyện ng H a th nh phố H Nội. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN C U 1. Một số vấn đề chung về giáo dục v truyền th ng m i trường 1. Giáo m i tr ng Giáo dục môi trƣờng là một phần không thể thiếu của chiến lƣợc phát triển bền vững vì con ngƣời là trung tâm của sự phát triển và giáo dục nâng cao nhận thức của con ngƣời nh m thay đổi hành vi, lối sống của con ngƣời vì sự phát triển bền vững.
Khái niệm Giáo dục môi trƣờng đƣợc hình thành vào khoảng thập niên 70-80 của thế kỷ , song song với quá trình phát triển của xã hội định ngh a về giáo dục môi trƣờng đã đƣợc nhiều nhà khoa học đƣa ra và dần thay đổi theo nhận thức của con ngƣời. Năm 1970, Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trƣờng trong chƣơng trình học đƣờng do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada, Mỹ đã thông qua định ngh a sau về giáo dục môi trƣờng: Giáo m i tr ng à quá tr nh thừ nhận giá trị và àm rõ khái niệm đ y ng những kỹ năng và thái độ ần thiết giúp hi u biết và đánh giá đúng m i t ng qu n giữ on ng i với n n văn hó và m i tr ng sinh ung qu nh m nh. Giáo m i tr ng ũng t o hội ho việ th hành đ r quyết định và t h nh thành quy t ứng ử tr ớ những v n đ iên qu n tới h t ợng m i tr ng (Nguyễn Thị Bí h H o, 2011). Định ngh a trên cho thấy giáo dục môi trƣờng đã đƣợc xem xét ở góc độ mang tính hợp lý và gắn kết với phát triển, nhấn mạnh đến khía cạnh chính trị trong giáo dục môi trƣờng cũng nhƣ đến đạo lý và giá trị.
Tuy nhiên, định ngh a này mới chỉ dừng lại ở quá trình thừa nhận và làm rõ khái niệm với đối tƣợng chung chung, nội dung của giáo dục môi trƣờng (GDMT) còn rất hạn chế. Khi xem xét môi trƣờng và các vấn đề về môi trƣờng ngƣời ta chỉ tập trung vào khía cạnh lý sinh, vào dạy và học các vấn đề môi trƣờng địa phƣơng, môi trƣờng nhân văn. Năm 2000, với ý tƣởng mở rộng, tiếp cận mang tính toàn diện và liên ngành, gắn kết các l nh vực liên quan đến môi trƣờng Jonathon Wigley đã đƣa ra một định ngh a tƣơng đối mới về giáo dục môi trƣờng có khả năng giải quyết đƣợc những thách thức đối với phát triển bền vững: “Giáo m i tr ng à một quá tr nh phát tri n những t nh hu ng y/h hữu í h giúp ng i y và ng ih th m gi gi i quyết những v n đ m i tr ng ó nh h ng đến h và t m r những u tr i ẫn đến một i s ng ó trá h nhiệm, đ ợ th ng tin đầy đủ” (Nguyễn Thị Bí h H o, 2011). Định ngh a nêu ra, chỉ rõ đối tƣợng là ngƣời truyền thông tin và nhận thông tin (ngƣời 3 dạy và học), phát triển những tình huống dạy/học để giúp ngƣời tham gia giải quyết vấn đề môi trƣờng; với mục tiêu hƣớng tới sự phát triển bền vững.
Có thể thấy, có rất nhiều định ngh a về giáo dục môi trƣờng với mục tiêu và đối tƣợng khác nhau qua từng giai đoạn phát triển, nhƣng tất cả các định ngh a trên đều có một số đặc điểm chung nhất về giáo dục môi trƣờng, đó là: Thứ nh t: Giáo dục môi trƣờng là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và b ng những phƣơng thức khác nhau; Thứ h i: Giáo dục môi trƣờng nh m thay đổi hành vi; Thứ b : Khung cảnh học tập là bản thân môi trƣờng và những vấn đề có trong thực tế; Thứ t : Giáo dục môi trƣờng bao gồm giải quyết các vấn đề và ra quyết định về cách sống. Trong giáo dục môi trƣờng việc học phải tập trung vào phát triển kỹ năng, những định ngh a này muốn nói r ng việc học tập phải tập trung ngƣời học và lấy hành động làm cơ sở. Truy n th ng m i tr ng Truyền thông môi trƣờng (TTMT): à một ng qu n qu n tr ng, b n ủ qu n m i tr ng. Nó ó tá động tr tiếp hoặ gián tiếp àm th y đổi nhận thứ , thái độ, hành vi ủ ng i n trong ộng đồng, từ đó thú đẩy h th m gi vào á ho t động b o vệ m i tr ng và kh ng hỉ t m nh th m gi mà n i u n những ng i khá ùng th m gi , đ t o r kết qu ó tính đ i húng”.
Hay nói cách khác truyền thông môi trƣờng là một hình thức truyền thông với chủ đề môi trƣờng (Nguyễn Thị Bích Hảo, 2011). Truyền thông môi trƣờng: à một quá tr nh t ng tá hội h i hi u, giúp cho m i đ i t ợng th m gi vào quá tr nh đó ùng t o r và ùng hi sẻ với nh u á th ng tin m i tr ng, với m đí h đ t đ ợ s hi u biết hung nh t v á v nđ m i tr ng iên qu n, và từ đó ó năng ùng hi sẻ trá h nhiệm b o vệ m i tr ng với nh u. Hi u biết hung sẽ t o n n móng ủ s nh t trí hung, và từ đó ó th đ r á hành động á nh n và tập th đ b o vệ m i tr ng” (Nguyễn Thị Hồng H nh, 2014). Nhƣ vậy, truyền thông môi trƣờng không nh m quá nhiều vào việc phổ biến thông tin, mà nh m vào việc chia sẻ nhận thức về một phƣơng thức sống bền vững và nh m khả năng giải quyết các vấn đề môi trƣờng cho các nhóm ngƣời trong cộng đồng xã hội.
Từ những khái niệm về giáo dục và truyền thông môi trƣờng đƣợc trình bày nhƣ trên cho thấy cả hai phƣơng thức này đều nh m giáo dục ý thức, thái độ và hành 4 vi ứng xử của con ngƣời đối với môi trƣờng. Tuy nhiên, mỗi phƣơng thức lại có một cách thể hiện riêng trong khi giáo dục môi trƣờng tập trung vào việc cung cấp và truyền đạt kiến thức cho ngƣời học. Truyền thông môi trƣờng chú trọng chia sẻ phƣơng thức sống bền vững thông qua các sản ph m truyền thông nhƣ bản tin, poster, tờ rơi, các buổi gặp gỡ thảo luận hàm chứa thông điệp và mong muốn của ngƣời làm truyền thông đến cộng đồng. Sự kết hợp giữa Giáo dục và Truyền thông môi trƣờng s góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi đối với môi trƣờng.M tiêu và đ i t ợng ủ giáo m i tr ng Mục tiêu Các chƣơng trình GDMT đƣợc thực hiện nh m đạt đƣợc 05 mục tiêu chính là: Hiểu biết về kiến thức, nhận thức, thái độ, kỹ năng và sự tham gia.