CHƯƠNG 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế - xã hội của huyện diễn ra với tốc độ khá cao và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế đem lại, môi trường đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm do chất thải rắn sinh hoạt không được thu gom, xử lý gây ra. Ngoài ra, huyện Châu Phú là nơi tập trung khá đông dân cư, đứng hàng thứ ba trong tỉnh (sau Chợ Mới và thành phố Long Xuyên).
Chất thải sinh hoạt phát sinh ngày càng tăng, trong khi công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, tình trạng xả rác thải không đúng nơi quy định tại các khu vực công cộng vẫn còn diễn ra khá phổ biến, gây ô nhiễm môi trường. Trước đây, hằng năm tại huyện Châu Phú thực hiện đặt hàng dịch vụ công đối với hoạt động vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện theo khối lượng phát sinh. Đối với công tác nghiệm thu khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và xử lý rác thải, hiện các cơ quan quản lý cơ bản dựa vào số liệu và thông tin từ phía doanh nghiệp thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt cung cấp có thể dẫn tới số lượng kê khai của các đơn vị không chính xác, từ đó ngân sách chi trả cho dịch vụ công có thể nhiều hơn so với thực tế. Thêm vào đó, công tác quản lý chất thải rắn ở khu vực nông thôn còn chưa được quan tâm đúng mức, với tỉ lệ thu gom, vận chuyển còn khá hạn chế, một phần do được thực hiện theo phương thức thô sơ, chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và không đảm bảo vệ sinh môi trường.
Chất thải rắn (CTR) đang gia tăng cả về khối lượng và chủng loại như: Chất thải sinh hoạt (CTRSH), chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, đã trở thành vấn đề môi trường bức xúc. Ô nhiễm chất thải rắn đang là vấn đề nổi, cần được quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, ở Việt Nam lượng CTRSH phát sinh khoảng 25,5 triệu tấn năm 2018, trong đó CTRSH đô thị là 38.000 tấn/ngày và CTRSH nông thôn khoảng 32. 1 Theo báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang năm 2023 tổng khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn tỉnh trung bình khoảng 1.
Trong đó: - Tình hình phát sinh: Theo ước tính, toàn tỉnh phát sinh khoảng 1. - Tình hình thu gom: Tổng khối lượng thu gom 922,5 tấn/ngày (đạt 75,6%). - Tình hình xử lý: 922,5 tấn được xử lý bằng các hình thức sau: + Chôn lấp hợp vệ sinh (637,78 tấn). Trong đó: 345,07 tấn (Châu Thành, Châu Phú và thành phố Long Xuyên) được chôn lấp tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn cụm Long Xuyên, huyện Châu Thành; 130,51 tấn (huyện Phú Tân và thị xã Tân Châu) được chôn lấp tại Khu xử lý rác thải xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân; 162,20 tấn thành phố Châu Đốc và huyện An Phú được chôn lấp tại Khu xử lý rác thải Kênh 10 - Châu Đốc.
+ Đốt không thu hồi năng lượng: 50,510 tấn tại Nhà máy xử lý chất thải rắn Thoại Sơn. + Đổ xá lộ thiên, không hợp vệ sinh: 234,162 tấn tại 07 bãi rác lộ thiên (thuộc dự án đóng cửa, xử lý ô nhiễm môi trường 25 bãi rác) - Còn lại chưa thu gom, xử lý: khoảng 300 tấn (người dân nông thôn tự xử lý và thải bỏ ra môi trường). MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Đánh giá thực trạng thu gom và quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nội dung 1: Đánh giá khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Châu Phú từ năm 2022-2035. 2 Nội dung 2: Đánh giá thực trạng phát sinh, thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Châu Phú. Nội dung 3: Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Châu Phú. Nội dung 4: Đề xuất những giải pháp phù hợp nâng cao tỷ lệ thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Châu Phú.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI - Về mặt khoa học: Tạo được một cơ sở dữ liệu đáng tin cậy và tham khảo cho các nhà quản lý và nghiên cứu sau này về CTRSH tại huyện Châu Phú. - Về mặt thực tiễn: Đề xuất được những giải pháp phù hợp nâng cao tỷ lệ thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Châu Phú. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đã trở thành vấn đề bức xúc đối với toàn xã hội và cần được quan tâm quản lý, thu gom triệt để, vận chuyển an toàn và xử lý hiệu quả về kỹ thuật lẫn kinh tế.
Huyện Châu Phú có thể coi là huyện thuần nông đang trong giai đoạn nỗ lực tăng trưởng kinh tế, xây dựng mở rộng đô thị, tăng cường quan hệ đầu tư, hợp tác với các liên doanh trong và ngoài nước. Bên cạnh sự phát triển về mọi mặt nêu trên, huyện còn phải đối mặt với các vấn đề về gia tăng dân số, tệ nạn xã hội và ô nhiễm môi trường. Hiện nay các vấn đề môi trường được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Để quản lý CTRSH hiệu quả trên địa bàn huyện Châu Phú trong những năm tiếp theo cần có nhiều nghiên cứu đánh giá thực trạng thu gom và đề xuất giải pháp nhằm hướng đến phát triển bền vững trong tương lai.
LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn là tất cả chất thải ở dạng rắn sản sinh do hoạt động của con người và sinh vật. Đó là các vật liệu hay hàng hóa không còn sử dụng được hay không hữu dụng đối với người sở hữu của nó nữa nên bị bỏ đi, kể cả chất thải của các hoạt động sống của sinh vật (Lê Hoàng Việt và Nguyễn Hữu Chiếm 2013) Theo Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP (24/4/2015) của Chính phủ: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Theo Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2020 của Quốc Hội ngày 17 tháng 11 năm 2020: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải”.
Có nhiều loại chất thải rắn tùy vào đặc điểm, tính chất và thành phần của chúng, bao gồm: chất thải rắn thông thường, chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nguy hại. 4 Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại (Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022). Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH - còn gọi là rác sinh hoạt) là là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người (Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022). Theo Điều 75, Luật môi trường (2020): Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân được phân loại theo nguyên tắc sau: Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; Chất thải thực phẩm; Chất thải rắn sinh hoạt khác.
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2014). Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Luật bảo vệ môi trường, 2020). Bên cạnh đó theo Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang (2023): “Chất thải rắn là Tất cả những gì mà con người đã sử dụng, không còn dùng được nữa (hoặc không muốn dùng nữa) nên vứt bỏ”: 2. Nguồn gốc chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau có thể phát sinh trong các hoạt động cá nhân cũng như trong các hoạt động xã hội từ quá trình sinh hoạt: Ở các hộ gia đình, khu thương mại thương mại (chợ, dịch vụ ăn uống), từ các công sở, các trường học, nơi vui chơi, giải trí, bệnh viện, cơ sở y tế, khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, nhà ga, giao thông, xây dựng (Nguyễn Thị Lan 2020) Chất thải rắn sinh hoạt là loại chất thải phát sinh từ các hoạt động hàng ngày của con người trong quá trình sinh sống và sinh hoạt mà con người không còn sử dụng được hay không hữu dụng đối với người sở hữu nên vứt bỏ.
Dưới đây là các nguồn gốc chính của chất thải rắn sinh hoạt: 1. Thức ăn thừa và đồ ăn không sử dụng: Bao gồm các mảnh vỡ thức ăn, đồ ăn thừa, vỏ trái cây, vỏ hạt…… 2. Giấy và bìa: Bao gồm giấy in không cần thiết, sách báo cũ, thư từ không sử dụng và các bìa bảo vệ…. Nhựa: Bao gồm túi nhựa, chai nhựa, bao bì nhựa, hộp nhựa, đồ chơi nhựa, đồ gia dụng nhựa…… 4.
Kim loại: Bao gồm lon nhôm, lon thiếc, nắp chai, ống có áp suất, đồ gia dụng kim loại…. Thủy tinh: Bao gồm chai thủy tinh, chai dung dịch, các vụn thủy tinh…. Vải dùng một lần: Bao gồm khăn giấy, khăn ăn, khăn mặt, băng vệ sinh…. Đồ điện tử: Bao gồm điện thoại di động, máy tính, máy ảnh, đèn LED, pin, ắc quy, mực in…… 8.
Chất thải y tế không nguy hiểm: Bao gồm bông, băng, gạc, găng tay, lược, ống tiêm…… 9. Đồ gia dụng phế liệu: Bao gồm nệm, giường, tủ, ghế, bàn, đèn….2 Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt Qua nghiên cứu thành phần của CTRSH thường được phân loại thành 2 loại chính gồm: Chất thải có khả năng phân huỷ sinh học (thức ăn dư thừa, rau, củ quả) và các loại chất thải còn lại (đồ gia dụng, gạch, đất đá lẫn, túi nilon) (Nguyễn Mạnh Khải, Đỗ Mai Phương, Lê Hồng Chiến & Phạm Thị Thúy, 2016). Theo Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang (2023).