CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 1. Định nghĩa về chất thải rắn sinh hoạt Từ xa xưa, chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) chủ yếu là rác thải hữu cơ dễ phân hủy. Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội đã khiến thành phần CTRSH ngày càng đa dạng.
Hiện nay, CTRSH đa dạng về thành phần, chủng loại, bao gồm cả rác thải hữu cơ và rác thải vô cơ khó phân hủy như nhựa, nilon, thủy tinh… Điều này đòi hỏi phải có quy định rõ ràng về CTRSH để quản lý và xử lý hiệu quả. Dưới đây là một số định nghĩa về CTRSH, cụ thể như sau: Theo khoản 18, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) 2020 quy định: “Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường xuyên của cá nhân, hộ gia đình.” Tại khoản 11, Điều 3, Nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT quy định: “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chất thải rắn đô thị - thường được gọi là rác thải sinh hoạt - được hiểu là một loại chất thải bao gồm các vật dụng hàng ngày bị loại bỏ bởi người dân. Hay theo Ngân hàng thế giới (World Bank), Chất thải rắn đô thị - thường được gọi là rác thải sinh hoạt – bao gồm các vật dụng hàng ngày mà mọi người sử dụng và sau đó vứt bỏ, chẳng hạn như bao bì sản phẩm, cỏ cắt, đồ nội thất, quần áo, chai lọ và lon,….
Tóm lại, trên cơ sở tham khảo nhiều nguồn trong và ngoài nước, dưới các góc độ định nghĩa về CTRSH, tác giả đồng quan điểm với các tổ chức và văn bản pháp luật. Nhưng tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ CTRSH cũng như để khái niệm có mối liên hệ chặt chẽ với chủ đề luận văn, tác giả đồng quan điểm với Nghị định 3 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT như sau: “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”. Việc quy định rõ ràng, chặt chẽ khái niệm các loại chất thải trong luật và quy định của Nhà nước về CTRSH giúp cho sự phân định và quản lý loại chất thải này dễ dàng và hiệu quả, nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý CTRSH hiện nay. Nguồn phát sinh, thành phần chất thải rắn sinh hoạt CTRSH được sinh ra từ hoạt động hàng ngày của con người.
Chất thải sinh hoạt được thải ra ở mọi lúc từ nhiều nguồn khác nhau. Những nguồn chính phát sinh CTRSH được thể hiện trong Bảng 1. Nguồn phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt Nguồn phát sinh Thành phần chất thải rắn Hộ gia đình CTR thực phẩm, giấy carton, nhựa, túi nylon, vải, da, rác vườn, gỗ, thủy tinh, lon thiếc, nhôm, kim loại, tro, lá cây, chất thải đặc biệt như pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe, sơn thừa… Khu thương mại Giấy, carton, nhựa, túi nylon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh, kim loại; chất thải đặc biệt như vật dụng gia đình hư hỏng (kệ sách, đèn, tủ…), đồ điện tử hư hỏng (máy radio, tivi…), tủ lạnh, máy giặt hỏng, pin, dầu nhớt xe, săm lốp, sơn thừa… Công sở Giấy, carton, nhựa, túi nylon gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh, kim loại; chất thải đặc biệt như kệ sách, đèn, tủ hỏng, pin. Xây dựng Gỗ, thép, bê tông, đất, cát… Khu công cộng Giấy, túi nylon, lá cây….
Trạm xử lý nước Bùn hóa lý, bùn sinh học thải Nguồn: Kreith, Frank và George Tchobanoglous (2002) [24] 4 1. Đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam Tại Việt Nam, do khí hậu nóng ẩm nên độ ẩm của chất thải rắn (CTR) rất cao, thành phần phức tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy do đó tỷ khối của rác khá cao. Do quá trình đô thị hóa nhanh, mức sống ngày càng cao, tiêu dùng ngày càng đa dạng nên lượng CTRSH ngày càng tăng, thành phần cũng ngày càng phức tạp [16]. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019 [2], CTRSH của Việt Nam có đặc trưng là độ ẩm cao (dao động trong khoảng 65-95%), độ tro khoảng 25 – 30% (khối lượng khô), tổng hàm lượng chất rắn bay hơi dao động trong khoảng 70 – 75% (khối lượng khô), nhiệt lượng thấp (dao động trong khoảng 900 – 1100 kcal/kg khối lượng ướt).
Thành phần chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học (thực phẩm thải) trong CTRSH của hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao hơn các thành phần khác và thành phần này đang thay đổi theo chiều hướng giảm dần. Từ năm 1995, thành phần chất thải thực phẩm chiếm tỷ lệ rất cao (80 – 96%) nhưng đến năm 2017 thành phần này giảm xuống còn khoảng 50 – 70%; điều này thể hiện sự thay đổi lối sống của cư dân đô thị là nhanh và tiện lợi. Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công nghiệp hóa, đô thị hóa, dân số tăng cùng mức sống nâng cao là những nguyên nhân chính dẫn đến lượng chất thải phát sinh ngày càng lớn.
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2022 [3], Tổng khối lượng CTR phát sinh trên địa bàn 48/63 tỉnh/thành phố là 48,5 nghìn tấn/ngày (khu vực nông thôn phát sịnh khoảng 22,4 nghìn tấn/ngày và khu vực đô thị phát sinh khoảng 26,1 nghìn tấn/ngày), CTRSH phát sinh ở các đô thị trên cả nước tăng trung bình 10-16% mỗi năm [2,3]. Từ năm 2019 đến nay, Tỷ lệ thu gom CTRSH tại đô thị đạt trên 90%; riêng năm 2021 đạt 96,28%. Cả nước có khoảng 1.322 cơ sở xử lý CTRSH, gồm 381 lò đốt CTRSH, 37 dây chuyền chế biến compost, 907 bãi chôn lấp, trong đó nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Trên tổng khối lượng CTRSH đươc thu gom, có 71% được xử lý bằng phương pháp chôn lấp (chưa tính lượng bã thải từ các cơ sở chế biến compost và tro xỉ phát sinh từ các lò đốt); 16% được xử lý từ các nhà máy chế biến compost; 5 13% được xử lý bằng phương pháp đốt.
Trong số 381 lò đốt CTRSH thì có 100 lò đốt có công suất trên 300 kg/h đáp ứng đúng Quy chuẩn 62:2016/BTNMT về lò đốt CTRSH. % trọng lương ướt 120 100 80 60 40 20 0 Hà Nội Hải Hải Hội An Đăk Đăk Lăk Lâm Gia Lai Kon Tp. Hồ Quận Dương Phòng Nông Đồng Tum Chí Thốt Minh Nốt 1. Chất thải có khả năng phân hủy sinh học (Cần Thực phẩm và chất thải vườn Thơ) 2.
Chất thải có khả năng tái chế Giấy các loại Giấy vụn, bìa các tông, vải, gỗ Nhựa Nhựa và Cao su Kim Loại Thủy Tinh Thủy tinh, Sành sứ 3. Chất thải có khả năng cháy Tã, băng vệ sinh Vải Da Cao su Cao su và da 4. Chất thải không tái chế/không có khả năng cháy 5. Thành phần khác 6.
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình tại một số địa phương [9, 11, 15, 21, 22] Nhận xét: Qua hình 1.1 cho thấy tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Hồ Chí Minh,… tỷ lệ thành phần thực phẩm và chất thải vườn chiếm đa số trong thành phần chất thải rắn. Đứng thứ hai và thứ ba lần lượt là Nhựa và chất thải có khả năng 6 tái chế, sau đó là các chất thải còn lại. Số liệu thống kê thành phần CTRSH của thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến 2019 cho thấy thành phần thực phẩm của hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao hơn các thành phần khác và thành phần này đang thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ 74,3 % (năm 2009) xuống 59,2% (năm 2019). Trong khi đó thành phần nhựa tăng từ 5,5% trong năm 2009 lên 13,9% trong năm 2019, điều này phù hợp với xu hướng tăng tỷ lệ tiêu thụ nhựa trên đầu nguời của Việt Nam từ 33 kg/năm (2010) lên 41 kg/năm (2015) vì sự tiện ích và giá thành rẻ của các sản phẩm nhựa.
Tác động đến môi trường tự nhiên, sức khỏe cộng đồng và kinh tế - xã hội CTRSH tại Việt Nam chủ yếu là thành phần hữu cơ dễ phân hủy như thức ăn thừa, rác vườn,. chiếm tới 52-72%, với độ ẩm cao (70-85%). Đặc điểm này, cộng với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, là nguyên nhân chính gây ra mùi hôi thối và nước rỉ rác, gây ô nhiễm môi trường đất, nước mặt, nước ngầm trong quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH, đặc biệt là tại các bãi chôn lấp. Quá trình phân hủy kỵ khí càng làm tình trạng ô nhiễm thêm nghiêm trọng.
Ngoài ra, CTRSH còn là môi trường thuận lợi cho côn trùng và động vật gây bệnh phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Nếu không được quản lý tốt, CTRSH sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường, kinh tế - xã hội và sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019 chuyên đề Quản lý chất thải rắn sinh hoạt [2], CTRSH tác động đến môi trường tự nhiên, sức khỏe cộng đồng và kinh tế - xã hội cụ thể nhu sau: a) Tác động đến môi trường đất và cảnh quan CTRSH với kích thước lớn và chứa nhiều thành phần khó phân hủy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan môi trường. Các bãi rác lộ thiên, mất mỹ quan đã trở nên quá phổ biến.
Việc đổ thải CTRSH trực tiếp trên mặt đất còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường đất. Quá trình phân hủy kỵ khí tạo ra các axit hữu cơ, làm tăng độ chua của đất. Nước rỉ rác từ các bãi rác thấm vào đất, mang theo kim loại nặng và các chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường đất. Chất thải rắn sinh hoạt để bừa bãi gây mất mỹ quan nơi công cộng b) Tác động đến môi trường nước Việc thải CTRSH xuống nguồn nước gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Rác thải nhựa như túi ni lông làm mất mỹ quan, cản trở ánh sáng, ảnh hưởng đến sinh vật. Rác thải lơ lửng như nhựa và dây buộc gây cản trở giao thông và gây hại cho thủy hải sản. Rác thải lắng đọng làm gia tăng bùn đất cần nạo vét. Quá trình phân hủy CTRSH sinh ra khí độc, đặc biệt là khí H2S, gây ngộ độc cho sinh vật.
Ngay cả khi chôn lấp đúng cách, nếu nước rỉ rác không được xử lý đạt chuẩn, CTRSH vẫn gây ô nhiễm.