MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lƣợng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nƣớc ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hƣớng mở rộng, phát triển cả về quy mô dân số và các khu công nghiệp. Tổng lƣợng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hoá, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nƣớc lên đến 6,5 triệu tấn/năm.
Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu, lƣợng còn lại từ các công sở, đƣờng phố và các cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhƣng chƣa đƣợc xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với chất thải rắn sinh hoạt đô thị. Chất thải rắn đô thị năm 2015 đã tăng gấp 1,6 lần so với năm 2010, dự đoán năm 2020 sẽ tăng gấp 2,37 lần và năm 2025 là 3,2 lần của năm 2010. Bình quân chất thải rắn/đầu ngƣời tăng (0,95kg/ngƣời/ngày năm 2009 lên l,6kg/ngƣời/ngày năm 2025).
Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn là vấn đề lớn đối với các cơ quan quản lý từ Trung ƣơng đến địa phƣơng1. Chất thải rắn sinh hoạt sẽ làm ảnh hƣởng tới sức khoẻ của con ngƣời và môi trƣờng. Các nghiên cứu cho thấy việc quản lý chất thải rắn không hợp lý là một trong những nguyên nhân gây ra ít nhất 22 loại bệnh cho con ngƣời. Điều đáng lo ngại là hầu hết các chất thải rắn nguy hại đều khó phân huỷ.
Nếu nhiệt độ lò đốt không đạt từ 8000C trở lên thì các chất này không phân hủy hết. Ngoài ra, chất thải rắn sinh hoạt còn gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, làm giảm mỹ quan số thị và gây bệnh truyền nhiễm. Hiện nay, công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị phổ biến đó là chôn lấp rác. Đô thị từ loại IV trở lên có ít nhất một bãi chôn lấp rác, trong đó có khoảng 85% bãi chôn lấp là bãi chôn lấp đơn giản, chất lƣợng xử lý chƣa đáp ứng các yêu cầu về môi trƣờng.
Công nghệ chôn lấp rác đang đặt ra nhiều vấn đề rất bức xúc, đòi hỏi phải giải quyết.vn/Pages/phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-de-giai-quyet-triet-de-cac-van-de-ve-moi- truong.aspx truy cập ngày 16. 1 Nhƣ vậy, với lƣợng chất thải rắn sinh hoạt tăng nhanh chóng và công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do Việt Nam có mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trƣờng và không tận dụng đƣợc nguồn tài nguyên từ rác thải. Việc áp dụng công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trƣờng và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách. Theo dự báo tổng lƣợng phát sinh chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2015 là 154.438 tấn/năm, song thực tế khảo sát cuối năm 2015 cho thấy khối lƣợng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh lên tới (tăng hơn so với dự báo khoảng 2,5 - 3 lần).
Trong bối cảnh đó, nhu cầu bức thiết trong xử lý rác thải sinh hoạt ngày một đƣợc quan tâm. Tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng và ban hành nhiều quy hoạch liên quan đến xử lý chất thải rắn sinh hoạt; nhiều cụm xử lý theo vùng đƣợc định hƣớng và triển khai xây dựng đi vào hoạt động nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ chất thải rắn sinh hoạt đến môi trƣờng. Tuy nhiên, theo thời gian nhiều hệ lụy liên quan đã phát sinh: sự không thống nhất trong công nghệ xử lý; tình hình phân loại, thu gom còn chƣa triệt để; ngoài ra sự không thống nhất trong giao nhiệm vụ cho cơ quan quản lý về chuyên môn thuộc UBND tỉnh cũng đặt ra tình trạng lúng túng khi giải quyết các vấn đề có tính hệ thống…Với địa hình đa dạng, tỉnh Quảng Ninh đã và đang từng bƣớc triển khai việc xử lý theo mô hình cụm nhằm hạn chế việc xử lý nhỏ lẻ, không thống nhất tại các địa phƣơng. Trƣớc thực trạng nêu trên, để góp phần tƣ vấn cho các cấp quản lý lựa chọn các giải pháp hiệu quả nhất trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực Hạ Long – Hoành Bồ - Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, luận văn “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” đã đƣợc thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đƣợc hiện trạng của công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo cụm xử lý Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. - Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo cụm xử lý Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Nhiệm vụ nghiên cứu - Phân tích những vấn đề lý luận về khái niệm, nguồn gốc, thành phần, đặc điểm của CTRSH; ảnh hƣởng của chất thải rắn đến môi trƣờng; tổng quan tình hình quản lý CTRSH tại Việt Nam. - Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH theo cụm xử lý Hạ Long – Hoành Bồ - Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đƣa ra giải pháp quản lý CTRSH trên địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Ý nghĩa khoa học: - Qua phân tích những vấn đề lý luận về khái niệm, nguồn gốc, thành phần, đặc điểm của CTRSH; ảnh hƣởng của CTR đến môi trƣờng, tổng quan tình hình quản lý CTR tại Việt Nam đề tài sẽ bổ sung thêm cơ sở khoa học về lý luận trong nghiên cứu về CTRSH. - Cung cấp, bổ sung số liệu một cách có hệ thống về công tác quản lý CTRSH, hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH theo cụm xử lý Hạ Long – Hoành Bồ - Cẩm Phả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Ý nghĩa thực tiễn: - Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc hoạch định những chính sách quản lý CTRSH theo cụm xử lý Hạ Long – Hoành Bồ - Cẩm Phả của Quảng Ninh trong thời gian tới.
- Cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng và cần thiết trong việc đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH theo cụm xử lý Hạ Long – Hoành Bồ - Cẩm Phả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó làm cơ sở cho việc đƣa ra giải pháp quản lý CTRSH trên địa bàn nghiên cứu. Những đóng góp mới của đề tài Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về các địa phƣơng ở tỉnh Quảng Ninh nhƣ Thành phố Hạ Long, Thành phố Uông Bí, Thành phố Cẩm Phả song đây mới chỉ là các nghiên cứu từng địa bàn cụ thể trong tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh 3 Quảng Ninh hiện nay có 4 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện song chƣa có một nghiên cứu nào nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về việc quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm gần đây đặc biệt là nghiên cứu theo cụm xử lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm Thành phố Hạ Long - Huyện Hoành Bồ (nay thuộc thành phố Hạ Long) - Thành phố Cẩm Phả. Đây là cụm khu vực điển hình theo mô hình xử lý cụm đang đƣợc triển khai tại tỉnh Quảng Ninh, với điểm xử lý đƣợc đặt tại Trung tâm xử lý chất thải rắn tại xã Vũ Oai, huyện Hoành Bồ (nay thuộc thành phố Hạ Long).
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm chất thải rắn và quản lý chất thải rắn 1. Khái niệm chất thải rắn Theo quan niệm chung: Chất thải rắn (CTR) là toàn bộ các loại vật chất đƣợc con ngƣời loại bỏ trong hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng.
Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống2. Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là “rác thải đô thị”) đƣợc định nghĩa là: vật chất mà ngƣời tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi đƣợc bồi thƣờng cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào đó, chất thải đƣợc coi là CTR đô thị nếu chúng đƣợc xã hội nhìn nhận nhƣ một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ. Khoản 3 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu, quy định: “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời”.
Nhƣ vậy, thuật ngữ chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) đƣợc đề cập trong luận văn là những chất thải ra liên quan đến hoạt động của con ngƣời. Nguồn tạo thành CTRSH chủ yếu từ các khu đô thị, khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn sử dụng, xƣơng động vật, tre, gỗ, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả. Khái niệm về quản lý chất thải rắn Quản lý chất thải rắn là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, trung chuyển và vận chuyển, xử lý và đổ chất thải rắn theo phƣơng thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hƣởng đến sức khoẻ cộng đồng, thoả mãn các yếu tố về 2 Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái (2001), Quản lý chất thải rắn: (Tập 1: Chất thải rắn đô thị), NXB Xây dựng.
5 kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn đề môi trƣờng liên quan. Quản lý thống nhất chất thải rắn là việc lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ, chƣơng trình quản lý thích hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đặc biệt quản lý chất thải rắn3.