MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu Trong thời gian làm việc tại phòng Tham vấn tâm lý học đƣờng ở một trƣờng mầm non chất lƣợng cao của Hà Nội, tôi đƣợc giáo viên chủ nhiệm lớp yêu cầu “trị liệu ngôn ngữ” (dạy nói cho những trƣờng hợp trẻ chậm nói) cho một bé gái ở lớp mẫu giáo Lớn. Theo lời giáo viên ở trƣờng, em đã theo học tại trƣờng 3 năm nay nhƣng chƣa bao giờ nói một tiếng nào mặc dù ai nói gì em cũng hiểu. Ở buổi làm việc đầu tiên, điều làm tôi băn khoăn nhất không chỉ là cảm giác căng thẳng, sợ hãi, co mình, ánh mắt lảng tránh của em khi tiếp xúc với ngƣời lạ, mà còn có một câu hỏi lớn đƣợc đặt ra: “Điều gì khiến bố mẹ em vẫn _ “bình chân nhƣ vại”_ khi con gái mình im lặng suốt 3 năm tại trƣờng mầm non?” Dù em “không nói đƣợc” hay “không muốn nói” thì việc một bé gái im lặng một thời gian dài nhƣ thế trong môi trƣờng quen thuộc cũng phải khiến bố mẹ và giáo viên lo lắng? Những trao đổi với gia đình cho thấy,em vẫn giao tiếp nói chuyện bình thƣờng ở nhà với bố mẹ, em trai và ngƣời giúp việc.
Tuy nhiên, khi xuất hiện thêm một ngƣời lạ hoặc chỉ cần bƣớc chân ra khỏi nhà là em lập tức im lặng. Với những hiểu biết của mình, ban đầu tôi nhận định em mắc chứng “câm chọn lọc” - một rối loạn lo âu khiến trẻ không nói đƣợc trong một số trƣờng hợp cụ thể, ví dụ nhƣ khi đi học hoặc khi ở nơi đông ngƣời. Dù vậy, trẻ vẫn có thể nói chuyện bình thƣờng với ngƣời thân và bạn bè, khi không ai chú ý hoặc khi trẻ ở nhà. Trong khoảng thời gian làm việc với em, tôi luôn đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn trên.
Xã hội Việt Nam vốn theo truyền thống Á Đông, trong văn hóa từ xƣa đến nay không khuyến khích nói nhiều, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em. Thêm vào đó, giáo dục trong gia đình cũng đề cao lễ phép,vâng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lời,“nói ít, nghe nhiều”. Trong những khung cảnh văn hoá đó, ít nói có khi là một lợi điểm để mình dễ thích ứng với một nếp sống nào đó hay đƣợc ngƣời khác tôn trọng hơn, thích mình hơn. Với quan điểm nhƣ vậy, cha mẹ em nghĩ việc con mình giao tiếp tự nhiên ở nhà với bố mẹ, em trai và ngƣời giúp việc, im lặng ở trƣờng và tất cả những nơi em đến là chuyện bình thƣờng, do sự bƣớng bỉnh của em, do em không thích.
Họ tin rằng những điều này sẽ hết khi em lớn hơn, hiểu chuyện hơn, vâng lời bố mẹ hơn. Từ phía giáo viên ở lớp lại có nhận định trái ngƣợc với bố mẹ, bỏ qua các yếu tố giao tiếp phi ngôn ngữ, khả năng hiểu lệnh, thái độ và cảm xúc của trẻ, cũng chƣa có sự trao đổi với gia đình về vấn đề của trẻ, các giáo viên ở lớp nhận định trẻ bị “tự kỷ” nên không biết nói, cần dạy trị liệu ngôn ngữ. Chính vì vậy, em im lặng suốt 3 năm trời mà không có sự can thiệp, giúp đỡ nào từ phía gia đình hay nhà trƣờng. Mọi việc chỉ thực sự đƣợc cha mẹ và giáo viên quan tâm khi em bắt đầu bƣớc vào học chƣơng trình tiền tiểu học.
Giáo viên dạy tiền tiểu học của em nói rằng nếu em vẫn tiếp tục không nói thì em không thể đi học lớp 1 đƣợc. Đến lúc này, cha mẹ em mới thật sự lo lắng và tìm đến sự giúp đỡ của nhà tâm lý. Và đây cũng chính là điều mà tôi trăn trở nhất khi hỗ trợ trƣờng hợp này. Nếu nhƣ vấn đề của em đƣợc phát hiện sớm hơn, trị liệu sớm hơn, tuổi thơ của em đã trải qua những ngày tháng khác tƣơi đẹp hơn.
Vì chứng câm chọn lọc là một bệnh lý hiếm hoi và vẫn còn ít đƣợc biết tới nên nó thƣờng đƣợc coi nhƣ sự nhút nhát hoặc chống đối ở trẻ, do đó thƣờng bị đối xử tệ bởi cha mẹ hoặc thầy cô. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam, sự im lặng này ở trẻ thƣờng dễ dàng bị coi nhƣ một hành vi tiêu cực. Từ những câu hỏi, những băn khoăn và những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu trƣờng hợp về “Chứng câm chọn lọc ở trẻ em”. Trên cơ sở những 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu này, tôi mong muốn có thể đề xuất đƣợc phƣơng thức làm việc hiệu quả với trẻ và giúp trẻ lấy lại tiếng nói ở trƣờng.
Đồng thời, giúp các bậc cha mẹ, giáo viên có cái nhìn chính xác, hệ thống hơn về vấn đề này, kịp thời phát hiện, hỗ trợ những trƣờng hợp trẻ mắc chứng câm chọn lọc. Nhiệm vụ nghiên cứu. Thứ nhất: Hệ thống hóa những tiếp cận, nghiên cứu, khái niệm, nguyên nhân, đặc điểm của chứng câm chọn lọc. Thứ hai: Nghiên cứu các tiêu chuẩn chẩn đoán và hƣớng can thiệp của chứng câm chọn lọc.
Thứ ba: Nghiên cứu trƣờng hợp lâm sàng một bé gái 5 tuổi mắc chứng câm chọn lọc. Thứ tư: Đề xuất phƣơng thức làm việc hiệu quả với trƣờng hợp trẻ 5 tuổi mắc chứng câm chọn lọc. Khách thể nghiên cứu 01bé gái 5 tuổi mắc chứng câm chọn lọc đang theo học tại một trƣờng mầm non chất lƣợng cao trên địa bàn quận Hoàn Kiếm - Hà Nội. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp phân tích tài liệu.
- Phƣơng pháp quan sát lâm sàng. - Phƣơng pháp hỏi chuyện lâm sàng. - Phƣơng pháp phân tích lịch sử cuộc đời. - Phƣơng pháp trắc nghiệm và các thang đo lâm sàng.
+ Test phóng chiếu tâm lý Patte noire - những cuộc phiêu lƣu của chú lợn chân đen. + Bảng liệt kê hành vi phát triển trẻ em (DBC-P). + Trắc nghiệm đánh giá trí tuệ Raven màu. + Thang đánh giá sự phát triển của trẻ PeP-R.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phƣơng pháp phân tích sản phẩm hoạt động. + Phƣơng pháp phân tích tâm lý trẻ em qua tranh vẽ. + Trò chuyện lâm sàng thông qua mô hình các biểu tƣợng - Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CÂM CHỌN LỌC Ở TRẺ 1.
Tổng quan về chứng câm chọn lọc ở trẻ Chứng câm chọn lọc là một rối loạn hiếm gặp, chỉ xảy ra ở 1% dân số thế giới. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con số này không chính xác do sự thiếu nhận thức về rối loạn này. Rối loạn thƣờng bắt đầu trƣớc 3 tuổi nhƣng thƣờng không đƣợc phát hiện cho tới khi đi học. Tỷ lệ trẻ gái mắc chứng rối loạn này thƣờng nhiều hơn trẻ trai (Anzieu, Barbey, Bernard-Nez, Daymas, (2008)).
Tác giả Aubry (2002) đã đƣa ra một loạt các mức độ giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói ở những đứa trẻ mắc chứng câm chọn lọc. Theo họ, một số trẻ không giao tiếp trong các tình huống mà chứng câm biểu hiện, trong khi một số trẻ khác giao tiếp nhƣng không sử dụng lời nói; một vài trẻ có giao tiếp đôi khi hoặc rất nhẹ nhàng với những ngƣời ngoài gia đình, một vài trẻ khác hoàn toàn không giao tiếp ở những môi trƣờng chúng cảm thấy không an toàn [13,tr. Chahraoui, Bénony (2003) cho rằng: "Rối loạn này không phải là do rối loạn giao tiếp hoặc thiếu kiến thức hay khó khăn trong ngôn ngữ" vì những đứa trẻ mắc bệnh đã nói tốt trong một số tình huống nhất định. Chahraoui nhấn mạnh rằng sự nhút nhát không đƣợc đánh đồng với chứng câm có chọn lọc, và phần lớn những đứa trẻ câm lặng sẽ không thể vƣợt qua hoàn toàn sự lo lắng của chúng nếu không có sự can thiệp đúng mức.
Sự liên kết với chứng rối loạn lo âu thƣờng đƣợc đồng tình, thậm chí trong điều trị y học, tuy cũng đƣợc lƣu ý rằng từ một số quan điểm, cả hai đều có những tính chất khác nhau [16, tr. Chapellière và Manela (2003) đã tin rằng sự câm lặng là nhằm mục đích duy trì sự liên kết giữa đứa trẻ và mẹ. Họ đã ghi nhận một mối quan hệ "rất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gần gũi, gần nhƣ cộng sinh" trong đó ngƣời mẹ bao bọc kĩ con mình. Giữa họ phát triển một sự phụ thuộc lẫn nhau, kéo đến sự lo lắng phải tách rời nhau.Trong trƣờng hợp này, đứa trẻ muốn đƣợc an toàn phụ thuộc vào mẹ, và "ngôn ngữ trở nên nguy hiểm khi có thể làm mất đi vật chủ (mẹ) vì vậy chúng cần một cách để vƣợt qua nỗi sợ này.Chapellière và Manela (2003) nói thêm rằng đứa trẻ đánh đồng việc nói chuyện với một hành động gây hấn, đó là lý do tại sao trẻ sử dụng sự im lặng nhƣ một cách tự vệ chống lại sự gây hấn này, hoặc thi thoảng sẽ đôi lúc thể hiện ra, bởi vì sự im lặng cũng đồng thời là một kẻ thù của chúng.
Các tác giả cho thấy tình cảm hai chiều của đứa trẻ đối với mẹ, một phần là sự cần thiết phụ thuộc vào mẹ và sợ mất đi, mặt khác là sự chống đối hoặc mong muốn đƣợc tách rời khỏi mẹ. Có thể trong những trƣờng hợp này, ngƣời mẹ đã bảo vệ quá mức đứa con của mình, luôn giữ con trong tầm kiểm soát, trong khi lại không có đủ khả năng và sự chú ý tới mặt cảm xúc của con [17, tr. Một số vấn đề lý luận về chứng câm chọn lọc ở trẻ Hiện nay, nguyên nhân của rối loạn này vẫn còn đang đƣợc tranh luận, tuy nhiên, có thể nhắc tới vai trò của các yếu tố sinh học, cấu trúc gia đình và đồng thời là các yếu tố tâm lý theo quan điểm phân tâm học và hành vi học. Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày hai vấn đề chính: bức chân dung lâm sàng của chứng câm chọn lọc; nguyên nhân của chứng câm chọn lọc theo các tiếp cận tâm lý.
Định nghĩa Dựa theo phần lý thuyết trong luận văn “Chứng câm chọn lọc: Nghiên cứu 30 trƣờng hợp” của Candida AUBRY (2002), chúng tôi đề cập tới ở đây một số mốc lịch sử quan trọng về chứng câm chọn lọc: Chứng câm chọn lọc lần đầu tiên đƣợc miêu tả vào năm 1877 bởi Kussmal dƣới cái tên “mất ngôn ngữ tự nguyện”, nhƣ một chứng rối loạn mà 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời ta lựa chọn không nói cho dù có khả năng giao tiếp bình thƣờng. Năm 1927, thuật ngữ “tâm thần câm lặng” đã đƣợc sử dụng bởi Sophie Morgenstern, ngƣời coi nó giống nhƣ một sự chống đối và kích động.