Chương 1 Điều 4: Cán bộ công chức. + Nghị định 92/2009 NĐ-CP ngày 22/10/2009 của chính phủ về chức danh số lượng, chế độ chính sách đối với cán bộ công chức xã. - Kế hoạch số 152/KH-BTV ngày 07/03/2016 của ban thường vụ Hội LHPN tỉnh về việc tổ chức cuộc thi viết “Tìm hiểu lịch sử phong trào phụ nữ ỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1930-2015”. - Quyết định số: 76/QĐ-BTV, ngày 05/05/2016 của BTV Hội LHPN huyện Phú Lương, về việc công nhận UV BCH Hội LHPN xã Cổ Lũng khóa XVII, nhiệm kỳ 2016-20121; - Nghị quyết số: 01/2008 Nghị quyết liên tịch giữa Công an- Hội LHPN về “Quản lý, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội” (giai đoạn 2008-2012).
n 14 - Nghị quyết số: 11-NQ/TW, ngày 27/04/2007 của Bộ chính trị về “Công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. - Công văn số: 54/CV-HPN ngày 18/08/2016 và công văn số: 63/CV- HPN, ngày 29/08/2016 của BTV Hội LHPN thành phố. - Quyết định số: 217-QĐ/TW, Quyết định số: 218-QĐ/TW của Bộ chính trị (khóa XI) về “Quy chế giám sát và Phạm biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Cơ sở thực tiễn 2.
Sự hình thành và vai trò của HPN trong sự nghiệp cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: Họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng. Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng.
Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng n 15 sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai. Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ. Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ. Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.
Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh. Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của Cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể Cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia Cách mạng. n 16 Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một con đường cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng phụ nữ.
Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930 đã thông qua một nghị quyết riêng về công tác vận động phụ nữ: "Ngoài những cách bóc lột như nhiều giờ làm, ít tiền lương, họ lại bị phong tục bó buộc, bị coi là hạng người tôi mọi, rất đê tiện trong xã hội, không có một chút tự do nào hết". Vì lòng yêu nước và căm thù đế quốc, phong kiến, phụ nữ Việt Nam nhất định sẽ trở thành lực lượng cách mạng đông đảo và hùng mạnh. Đảng đã nhận định: "Lực lượng Cách mạng của phụ nữ là một lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì Cách mạng không thắng lợi được".
Đảng coi công tác vận động phụ nữ là một nhiệm vụ to lớn và trọng yếu và chủ trương thành lập "Phụ nữ hiệp hội". Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), nhiều tổ chức phụ nữ dân chủ hoạt động công khai và nửa công khai. Ở thành thị, chị em tổ chức theo từng ngành nghề, đấu tranh đòi địch phải giải quyết những yêu sách về đời sống, giảm thuế, tăng cường, đối xử bình đẳng.Đông đảo phụ nữ đã tham gia vào cuộc mít tinh khổng lồ ngày 1 tháng 5 năm 1938 tại khu Đấu Xảo Hà Nội. Tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập.
Các tổ chức quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng đều lấy tên "cứu quốc". Tháng 6 năm đó, HPN Cứu quốc đầu tiên được thành lập ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Các tổ chức phụ nữ mang tên Giải phóng, Dân chủ, Phản đế đều chuyển sang là Phụ nữ Cứu quốc. Các cơ sở phụ nữ mọc lên nhanh chóng ở Thái Bình, Hà Tây, Nam Hà.
Ở Bắc Bộ đã thành lập "Ban vận động phụ nữ xứ", ở nhiều tỉnh đã có "Ban cán sự phụ nữ tỉnh". Riêng Hà Nội, Hội Phụ nữ Cứu quốc phát triển mạnh ở các huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh và một số nơi trong thành phố. Từ cao trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nhiều tổ chức phụ nữ ra đời ở các tỉnh miền Nam. Đặc biệt là ở Sài Gòn, Cần Thơ, Bến Tre.
các hội phụ nữ n 17 góp phần tích cực vào việc chuẩn bị cho ngày tổng khởi nghĩa. Tháng 8-1945, khi thời cơ Cách mạng chín mùi, chị em phu nữ cả nước vùng dậy, cùng toàn dân cướp chính quyền, xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ. Từ đó, địa vị người phụ nữ Việt Nam đã hoàn toàn khác hẳn. Việc thành lập Hội LHPN VN (20-10-1930) đã xác nhận vai trò và vị trí của người Phụ nữ trong xã hội ta.
Lần đầu tiên, người phụ nữ Việt Nam được cầm lá phiếu bầu cử, tham gia các công tác chính quyền và xã hội nắm giữ nhiều trọng trách trong bộ máy Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chị em phụ nữ Việt Nam đã góp phần xương máu vào thắng lợi huy hoàng của dân tộc. Tên tuổi các nữ anh hùng Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi, Trần Thị Lý, Mẹ Suốt, Lê Thị Hồng Gấm và rất nhiều người khác là những biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng của nhân dân ta. Lịch sử sẽ còn mãi mãi ghi lại những hình ảnh chói ngời của những "đội quân tóc dài", những nữ chiến sĩ bất khuất trong tù, những mẹ già đào hầm bảo vệ cán bộ, cất giấu thương binh, những đội nữ dân quân bắn rơi máy bay phản lực, bắn cháy tàu chiến của địch, những nữ thanh niên xung phong "sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm".
Hàng triệu người mẹ, người vợ đã vượt qua mọi hy sinh gian khổ, động viên chồng con đi chiến đấu, đảm đang việc nước, việc nhà, vững vàng gan dạ vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Phụ nữ Việt Nam rất tự hào, xứng đáng với lời khen của Đảng và Nhà nước "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang chống Mỹ, cứu nước" 2. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương 2. Bài học kinh nghiệm từ Chị Nguyễn Thị Thu Vân, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa Chị Nguyễn Thị Thu Vân là một Chủ tịch Hội LHPN xã năng động, nhiệt tình, chất phác, mộc mạc.
n 18 Chị Nguyễn Thị Thu Vân sinh ra và lớn lên ở xã Hòa Xuân Tây, chị Nguyễn Thị Thu Vân (SN 1976) đã tham gia công tác Hội Phụ nữ từ năm 2006 với vai trò là Phó Chủ tịch và sau đó là Chủ tịch Hội LHPN xã. Chị Vân cho biết: Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng khi đảm trách mới thấy nó không dễ chút nào, ngược lại còn đòi hỏi phải đầu tư công sức và cả tâm huyết. Qua 10 năm làm công tác Hội, gắn bó với hội viên phụ nữ, thường xuyên đến thăm hỏi, động viên, tôi nắm bắt được tâm ý từng chị em. Chính vì thế, trong sinh hoạt chi hội, tôi luôn tạo điều kiện để hội viên chia sẻ buồn vui, cùng nhau xây dựng tốt cuộc sống gia đình.
Qua đó, tôi cũng nhắc nhở chị em làm tròn nghĩa vụ của người hội viên, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Những năm qua, chị Vân cũng nhiều lần làm hòa giải viên cho các vụ mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình hội viên. Những lúc như thế, chị luôn chịu khó lắng nghe, để hội viên nói hết những suy nghĩ, bức xúc của mình rồi cùng với tổ phụ nữ tìm cách hòa giải và động viên chị em cố gắng vươn lên trong cuộc sống.