Chương 1 MỘT • SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN • VỀ THựC • HIỆN • CHỨC NẢNG CỦA VIỆN KIẺM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIÈU TRA CÁC vụ ÁN HÌNH SỤ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TƯÔI 1. Khái niệm • hiện • thực • kiêm sát nhân dân • chức năng~ của Viện trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là nguôi dưới 18 tuổi 1. Khái niệm bị can là người dưới 18 tuổi Trước khi BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS) được ban hành, pháp luật hình sự Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội” mà sử dụng thuật ngừ “người chưa thành niên phạm tội”. Việc sử dụng các thuật ngừ này phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là Bộ luật Dân sự năm 2015); Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (nay là Luật trẻ em năm 2016).
Tuy nhiên, để đảm bảo sự tương thích, sự hài hòa với các chuẩn mực quốc tế mà trước hết là Công ước về quyền trẻ em. Theo những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Họp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14 - 12 - 1990 đã nêu: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuồi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được luật xác định. Theo quy định này thì phạm vi độ tuối của người chưa thành niên cũng tương tự như người dưới 18 tuổi được giới hạn từ 0 đến dưới 18 tuổi [10], Xét về nội hàm, thì khái niệm người chưa thành niên là khái niệm mang xu hướng định tính, có nhiều văn bản hướng dẫn, giài thích về độ tuổi theo khái niệm này.
Còn cấp độ tuổi của người chưa thành niên có ý nghĩa đánh dấu thứ tự thang bậc của quá trình phát triển đến tuổi trưởng thành (tất nhiên, cùng với quá trình phát triển thì ý thức, kiến thức của người chưa thành niên cũng phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện đến một mức độ nhất định). 7 Cụm từ “người chưa thành niên” cũng được nhăc đên tại khoản 3 điêu 103 của Hiến pháp năm 2013: “TAND xét xừ công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, TAND có thể xét xử kín”. Tuy nhiên BLTTHS và BLHS dùng khái niệm “người dưới 18 tuổi” do khái niệm ngày mang xu hướng định lượng, cụ thể, sử dụng theo nghĩa đen của cụm từ, tránh việc hiểu sai mốc tính độ tuổi trong tư pháp hình sự.
Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam, năm 2002 đã đưa ra khái niệm về “người chưa thành niên” [37], tương tự ta suy luận ra khái niệm về người dưới 18 tuổi: “Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa cỏ đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”. Dựa vào khái niệm này chúng ta có thể hiểu đặc điểm của người dưới 18 tuổi như sau: Thứ nhất, người dưới 18 tuối là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ và tinh thần (đặc điểm về tâm, sinh lý). Điểm đặc trưng của lứa tuổi này là sự phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm, sinh lý. Người dưới 18 tuổi là người đang ở giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình.
Đối với người dưới 18 tuổi, do tư duy của họ chưa phát triển hoàn thiện nên họ chưa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thường trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiềm chế chưa cao. Thứ hai, người dưới 18 tuổi là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Các yếu tố khách quan của xã hội chính là cơ sở quan trọng đế phân chia độ tuổi của người dưới 18 tuổi. Ở các quốc gia khác nhau thì các yếu tố khách quan của xã hội cũng khác nhau.
Chính vì vậy, độ tuổi để phân chia người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) và người đủ 18 tuổi (người đã 8 thành niên) trên thê giới là không giông nhau. Ngày 29 - 11 - 1985, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Quy tắc Bắc Kinh và định nghĩa: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuồi tùy theo từng hệ thống pháp luật. Có the nói, việc thay đổi cụm từ “người chưa thành niên” thành “người dưới 18 tuổi” có ý nghĩa rất quan trọng để xác định độ tuổi cụ thể, liên quan tới nhiều chính sách lớn của Nhà nước trong quản lý xã hội. Trên nguyên tắc đảm bảo tính họp hiến, hợp pháp, đảm bào sự phù hợp với các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Ớ nước ta, từ ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công tới nay, Nhà nước đã nhất quán xác định 18 tuổi tròn chính là ranh giới để phân chia người chưa thành niên và người đã thành niên. Điều đó cũng có nghĩa là chỉ khi nào một người tròn 18 tuổi thì mới có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân, nhằm mục đích bào vệ quyền trẻ em [39]. Đối với Luật hình sự và TTHS, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là tuổi do BLHS quy định và được tính tại thời điếm người đó thực hiện tội phạm [2, tr. Việc xác định một người, ở độ tuổi nào phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình gây ra có ỷ nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Khoa học luật hình sựe xác định e tuồi phải 1 chịu • hình sự> chủ yếu dựa • trách nhiệm • vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người mà chủ yếu là sự phát triển về quá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Tại Điều 12 và Điều 90 BLHS quy định: Điều 12. Tuồi chịu trách nhiệm hình sự 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng 9 quy định tại một trong các điêu 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuối phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này [30], Tại điều 6 thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BLDTBXH ngày 21/12/2018 [43] về phối hợp thực hiện một sổ quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi cũng quy định rất rõ về cách xác định tuổi của người bị buộc tội dưới 18 tuổi. Từ các phân tích trên có thể thấy rằng, tính từ thời điểm thực hiện tội phạm, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuồi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Theo quy định của BLTTHS “Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự” [31, Điều 60].
Do vậy có thể đưa ra khái niệm: Bị can là người dưới 18 tuôi là người thực hiện mọi hành vi phạm tội khi đã đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuồi hoặc từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuồi mà phạm tội rất nghiêm trọng do cố ỷ hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS và bị các cơ quan có thâm quyền ra quyết định khởi tố về hình sự. Khái niệm chức năng của Viện kiêm sát nhân dân trong giai đoạn • điều tra vụ• án hình sự • can là người • mà bị o dưới 18 tuổi Thuật ngữ “Chức năng” được hiểu là “nhiệm vụ, công dụng và vai trò” [46]. Tại điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định chức năng của VKSND như sau: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [28]. Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND [29] quy định về chức năng của VKSND: “Viện Kiếm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [29], Đồng thời đưa ra khái niệm về chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND tại Điều 3, 4 của Luật này như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực • hiện • việc • buộc • tội • của Nhà nước đối với người JLphạm • tội, • y được • thực • hiện • ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS.
Kiêm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết VAHS; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [29, Điều 3-4]. về chức năng của VKSND trong TTHS, theo quy định của BLTTHS, quá trình tố tụng của nước ta trải qua các giai đoạn đó là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.