Chương 1 này, tác giả tiến hành phân tích cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến luận án để đề ra phương pháp nghiên cứu phù hợp cho luận án. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Cấu trúc phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của giáo viên 1. Cấu trúc phẩm chất năng lực GV Khi nghiên cứu về cấu trúc năng lực của GV, người ta thường phân chia cấu trúc năng lực thành các nhóm cấu trúc khác nhau, tùy theo quan điểm của cá nhân, như Litvin, S.
cho rằng cấu trúc năng lực nghề nghiệp của GV gồm 4 thành phần như phương pháp giảng dạy, mục tiêu của giáo viên đặt ra, cách tổ chức lớp học, các điều kiện cơ sở vật chất trong lớp, thành tích của học sinh (Litvin, S. Nghiên cứu của Seidel và Shavelson cho rằng cấu trúc năng lực của người GV gồm 08 thành phần trong đó bao gồm bốn thành phần liên quan đến bối cảnh giảng dạy và sự tham gia vào hoạt động học tập là (a) kiến thức theo nội dung môn học khác nhau (ví dụ, toán học, đọc hiểu, khoa học) “(b) thời gian dành cho học tập, trong đó có tính đến lượng thời gian dành cho việc giảng dạy và thời gian dành cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập”, (c) quản lý lớp học, và (d) thiết lập một môi trường học tập trong lớp học. "Bốn thành phần trung tâm khác là (a)" thiết lập / định hướng mục tiêu, (b) "thực hiện các hoạt động học tập", (c) "đánh giá", và (d) "quy định về giám sát" (Seidel, 2007, tr. Tác giả Got và Bell cho rằng năng lực nghề nghiệp của giáo viên bao gồm việc quan sát lớp học, phân tích điều kiện trong lớp, cơ sở vật chất, tổ chức hoạt động thực hành giảng dạy và đánh giá học sinh (Mallon, M.
Như vậy, mặc dù các phân chia theo nhóm 04 hay 08 nhóm, các tác giả trên đều đã thống nhất năng lực nghề nghiệp bao gồm yếu tố trường học, khả 8 năng của giáo viên, các yếu tố và nguồn lực trong lớp học, bối cảnh giảng dạy và sự tham gia vào hoạt động học tập, và các phương pháp đánh giá cụ thể của giáo viên. Một số tác giả trong nước như tác giả Nguyễn Đức Vũ đã chỉ ra năng lực nghiệp vụ sư phạm của GV bao gồm: 1/Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; 2/Năng lực dạy học, gồm Lập kế hoạch bài học và kế hoạch bài dạy; Thực hiện kế hoạch dạy học; Vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; Sử dụng phương tiện dạy học; Xây dựng môi trường dạy học; Đánh giá kết quả học tập của người học (Nguyễn Đức Vũ, 2012). Tác giả Đoàn Nguyệt Linh đã chỉ ra 14 tiêu chí cho kỹ năng dạy học môn lịch sử, bao gồm: (1) Xây dựng mục tiêu bài dạy phù hợp, (2) Tổ chức và quản lý tốt lớp học, (3) Sử dụng hợp lý phương pháp dạy học, (4) Tìm kiếm tài liệu bổ sung cho nội dung bài dạy, (5) Chuẩn bị giáo án sáng tạo, tùy vào nội dung và đối tượng dạy học, (6) Sử dụng hợp lý phương tiện dạy học, (7) Kinh nghiệm kích thích tính tích cực và nhu cầu, nhận thức của người học, (8) Có kinh nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh công bằng khách quan và chính xác, (9) Có khả năng sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong dạy học, (10) Có khả năng tương tác với học sinh trong môi trường dạy học đa phương tiện hiệu quả, (11) Phân phối thời gian hợp lý, hiệu quả, phù hợp trình độ, (12) Có phòng cách sư phạm chuẩn mực, (13) Duy trì thường xuyên bầu không khí học tập cho mọi thành viên trong lớp, (14) Biết khen chê kịp thời, đúng đối tượng, để khuyến khích học sinh (Đoàn Nguyệt Linh, 2015). Dựa vào các năng lực cốt lõi của CBQL trường học và GV; những hạn chế, bất cập của các hình thức đánh giá (đánh giá theo Chuẩn; đánh giá theo quy định của công chức, viên chức; khảo sát định kì).
Tác giả Nguyễn Quốc Anh và các cộng sự đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá CBQL, GV, theo 3 nhóm: + Năng lực chung; + Năng lực chuyên môn/đặc thù; + Năng lực quản lí, bao gồm 8 tiêu chuẩn và 37 tiêu chí: Trong đó, tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, với 4 tiêu chí (từ tiêu chí 8 đến tiêu chí 11); tiêu chuẩn 6: 9 Năng lực phát triển nghề nghiệp, với 4 tiêu chí (từ tiêu chí 25-28); tiêu chuẩn 8: Năng lực tổ chức hoạt động chính trị, xã hội với 3 tiêu chí (từ 35-37). Ngoài ra, còn bổ sung thêm một số nội dung ở các tiêu chí: 18, 19, 20, 21, 33 để cụ thể hóa thêm trong bộ tiêu chí đánh giá (Nguyễn Quốc Anh, 2018); Trường đại học Sư phạm chia năng lực nghề nghiệp của giáo viên được cấu trúc thành các nhóm, gồm (i) năng lực dạy học (năng lực giáo dục), gồm phân tích chương trình và học liệu; thiết kế kế hoạch dạy học và giáo dục; sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại; tổ chức và quản lí lớp học; Phối hợp với cha mẹ học sinh (CMHS), (ii) năng lực định hướng sự phát triển của học sinh, (iii) năng lực phát triển cộng đồng, (iv) năng lực phát triển cá nhân, bao gồm năng lực học; năng lực giao tiếp; năng lực thích ứng môi trường; năng lực nghiên cứu khoa học (Trường đại học Sư phạm, 2018). Khung năng lực nghề nghiệp của giáo viên Dựa trên cấu trúc năng lực các tác giả đã đưa ra, có thể thấy hầu hết đều tập trung đưa ra khung năng lực nghề nghiệp chưa thể hiện được phẩm chất nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp. Tuy nhiên nhìn trên các chỉ số có 10 thể thấy các tiêu chí về phẩm chất nghề nghiệp đã được đặt trong các tiêu chuẩn như tác giả Đoàn Nguyệt Linh đã chỉ ra năng lực bao gồm từ chỉ số 1 đến chỉ số 8; phẩm chất bao gồm từ chỉ số 9 đến chỉ số 14.
Tác giả Nguyễn Quốc Anh xây dựng tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp, với 4 tiêu chí (từ tiêu chí 25-28); tiêu chuẩn 8: Năng lực tổ chức hoạt động chính trị, xã hội với 3 tiêu chí (từ tiêu chí 35-37). Cấu trúc phẩm chất và năng lực giáo viên mầm non Khung năng lực GVMN được UNESCO, xây dựng gồm bốn khung: 1) kiến thức về nội dung giảng dạy, thực hành sư phạm và đánh giá; 2) môi trường học tập 3) tham gia và hợp tác; 4) phát triển chuyên môn. Lồng ghép trong bốn nội dung về năng lực này là 1 bộ gồm 7 chuẩn năng lực tổng quát hay năng lực cốt lõi liên quan đến những nội dung chung về trách nhiệm của giáo viên mầm non và những năng lực bổ trợ của giáo viên mầm non, hoặc kiến thức/nhiệm vụ cụ thể mà giáo viên mầm non nên có khả năng thực hiện được hay thể hiện để trợ giúp cho mỗi chuẩn năng lực tổng quát nói trên. Khung năng lực giáo viên mầm non khu vực Đông Nam Á 11 Những năng lực này được hỗ trợ bởi một nhóm bao gồm các năng lực hỗ trợ giúp giáo viên GDMN có thể thể hiện được khả năng trong phạm vi về kiến thức về nội dung giảng dạy, thực hành sư phạm và đánh giá, trong đó tiêu chuẩn 1 có 9 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 2 có 12 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 3 có 14 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 4 có 11 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 5 có 8 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 6 có 9 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 7 có 9 năng lực hỗ trợ (phụ lục Khung năng lực GVMN khu vực Đông Nam Á).
Mặc dù khung này tuy không đề cập cụ thể đến phẩm chất, nhưng trong các thành tố của 7 tiêu chuẩn có đề cập đến các năng lực cần có về phẩm chất: (i) giao tiếp với tất cả trẻ em với thái độ yêu thương và quan tâm, chăm sóc; (ii) chủ động lắng nghe trẻ và luôn kịp thời phản hồi các nhu cầu của trẻ; (iii) luôn thống nhất trong việc làm gương để cho trẻ thấy được những hành vi, thái độ mong muốn có được từ trẻ (tiêu chuẩn 3); (iv) hợp tác với các giáo viên mầm non khác để chia sẽ thông tin, kiến thức, học tập và hỗ trợ lẫn nhau (tiêu chuẩn 6); (v) hành xử với thái độ chuyên nghiệp và đạo đức, bao gồm tôn trọng quan điểm và văn hóa khác nhau, giữ gìn đạo đức và giá trị, và hợp tác với đồng nghiệp, như đã được đề cập trong qui định, luật pháp quốc gia cũng như trong các chuẩn đạo đức hành nghiệp có liên quan đến mầm non (tiêu chuẩn 7). Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã xây dựng khung đánh giá GVMN, GVPT, gồm có 5 tiêu chuẩn, mỗi tiêu chuẩn gồm 6 tiêu chí, tổng là 30 tiêu chí. Khung đánh giá của giáo viên Khung đánh giá GV nói chung và GVMN nói riêng mặc dù không thể hiện rõ tiêu chuẩn về phẩm chất nghề nghiệp, mà được đặt trong các tiêu chí năng lực, ví dụ tiêu chí 2. số tiêu chí này có thể đảm bảo xây dựng thành tiêu chuẩn về phẩm chất nghề nghiệp.
Một số tác giả như Hồ Lam Hồng, đã xác định năng lực nghề nghiệp GVMN bao gồm (i) năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; (ii) năng lực dạy học; (iii) năng lực giáo dục; (iv) năng lực hoạt động chính trị, xã hội; (v) năng lực phát triển nghề nghiệp và (vi) phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (Hồ Lam Hồng, 2012). Tác giả Cù Thị Thủy, cho rằng năng lực nghề nghiệp GVMN, bao gồm (i) kỹ năng tìm hiểu đối tượng trẻ và việc học của trẻ từng độ tuổi (nhà trẻ và mẫu giáo) thông qua việc quan sát hành vi, điều tra bằng các kỹ thuật thông thường (đặt câu hỏi, hoặc thông qua sản phẩm hoạt động của trẻ…); (ii) kỹ năng quản lý trẻ, quản lý thời gian và các nguồn lực; (iii) kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục, bao gồm lập kế hoạch, sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với từng hoạt động cụ thể, kỹ năng xây dựng môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn và tận dụng tối đa 13 điều kiện sẵn có của địa phương; (iiii) kỹ năng dạy học và tác động giáo dục trực tiếp, phù hợp với trẻ theo từng độ tuổi, bao gồm giao tiếp ứng xử với trẻ; hướng dẫn trẻ thực hiện các bài tập; quan sát theo dõi, đánh giá quá trình phát triển của trẻ (Cù Thị Thủy, 2017).