Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức GVMN tại Đống Đa

Nghiên cứu ảnh hưởng chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức giáo viên mầm non công lập quận Đống Đa, Hà Nội. Phân tích sâu về tác động và đề xuất giải pháp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2023

222
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng, biểu đồ, hình, sơ đồ

MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Giả thuyết nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.7. Phạm vi nghiên cứu

1.8. Đóng góp mới của luận án

1.9. Cấu trúc của Luận án

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Một số vấn đề chung về chuẩn nghề nghiệp giáo viên

1.2.1. Khái niệm về chuẩn nghề nghiệp, phẩm chất, năng lực nghề nghiệp

1.2.2. Vai trò của chuẩn nghề nghiệp. Giới thiệu Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non

1.3. Cấu trúc phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của giáo viên

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của giáo viên

1.5. Mối quan hệ giữa chuẩn nghề nghiệp với sự phát triển về phẩm chất và năng lực của giáo viên

1.6. Nâng cao nhận thức chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non

1.7. Sử dụng chuẩn nghề nghiệp để đánh giá giáo viên

1.7.1. Khái niệm đánh giá

1.7.2. Quy trình thiết kế và triển khai hoạt động đánh giá. Hình thức đánh giá

1.7.3. Phương pháp và công cụ đánh giá

1.8. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của giáo viên

1.8.1. Một số khái niệm ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của giáo viên. Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng đến hành vi cá nhân

1.8.2. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của giáo viên

1.8.3. Đề xuất mô hình nghiên cứu

1.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Bối cảnh nghiên cứu

2.1.1. Khái quát chung về giáo dục mầm non thành phố Hà Nội

2.1.2. Khái quá chung về giáo dục mầm non quận Đống Đa, Hà Nội

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

2.2.2. Phương pháp định lượng. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Xây dựng công cụ nghiên cứu

2.3.1. Mẫu nghiên cứu

2.3.2. Thiết kế phiếu khảo sát

2.3.3. Xây dựng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc

2.3.4. Xây dựng phiếu quan sát hoạt động

2.4. Thu thập dữ liệu

2.4.1. Khảo sát bằng phiếu hỏi

2.4.2. Phỏng vấn bán cấu trúc

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHUẨN NGHỀ NGHIỆP ĐẾN NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON

3.1. Mức độ nhận thức của GVMN về quy định của chuẩn nghề nghiệp

3.2. Ảnh hưởng của chuẩn đến nhận thức của giáo viên mầm non về “Phẩm chất nhà giáo”

3.3. Ảnh hưởng chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức về năng lực nghề nghiệp

3.4. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức về phát triển chuyên môn bản thân

3.5. Ảnh hưởng của Chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GV về xây dựng môi trường giáo dục

3.6. Ảnh hưởng của Chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GV về phát triển mối quan hệ giữa nhà trường gia đình và cộng đồng

3.7. Ảnh hưởng của Chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GV về sử dụng ngoại ngữ (tiếng dân tộc), ứng dụng CNTT, khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ

3.8. Đánh giá sự khác biệt về nhận thức về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của GVMN. Sự khác biệt nhận thức theo trình độ đào tạo

3.9. Sự khác biệt nhận thức theo thâm niên công tác

3.10. Sự khác biệt về nhận thức theo kết quả xếp loại Chuẩn nghề nghiệp

3.11. Sự khác biệt về nhận thức do tập huấn

3.12. Chuẩn nghề nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động tự rèn luyện phát triển bản thân GVMN

3.13. Kết quả dự giờ hoạt động

3.14. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1.1. DANH MỤC BẢNG

1.1.1. Bảng 2. Danh sách trường mầm non thành phố Hà Nội (công lập)

1.1.2. Kết quả đánh giá xếp loại GVMN theo chuẩn nghề nghiệp Năm học: 2019-2020 (Công lập)

1.1.3. Số lượng cán bộ quản lý và giáo viên năm học 2018-2019

1.1.4. Kết quả đánh giá xếp loại GVMN theo chuẩn nghề nghiệp Năm học 2019-2020 (công lập)

1.1.5. Tổng hợp phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

1.1.6. Quy trình nghiên cứu

1.1.7. Số lượng giáo viên tham gia khảo sát cụ thể theo từng trường

1.1.8. Trình độ đào tạo của GVMN

1.1.9. Thâm niên công tác

1.1.10. Kết quả xếp loại GVMN theo chuẩn nghề nghiệp

1.1.11. Tập huấn về chuẩn nghề nghiệp

1.1.12. Độ tin cậy tổng thể của Phiếu khảo sát

1.1.13. Độ tin cậy của thành tố “Phẩm chất nhà giáo”

1.1.14. Độ tin cậy của thành tố “Năng lực nghề nghiệp”

1.1.15. Độ tin cậy về “Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức về phát triển chuyên môn bản thân”

1.1.16. Độ tin cậy của tiểu thành tố “Xây dựng môi trường giáo dục”

1.1.17. Độ tin cậy của tiểu thành tố “Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường gia đình và cộng đồng”

1.1.18. Độ tin cậy tiểu thành tố “Sử dụng ngoại ngữ (tiếng dân tộc), ứng dụng công nghệ thông tin, thể hiện khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em"

1.1.19. Số lượng tham gia phỏng vấn

1.1.20. Nhận thức của GVMN về chuẩn nghề nghiệp GVMN

1.1.21. Mối quan hệ giữa quy định của chuẩn và tự nhận thức của GVMN

1.1.22. Bảng 3. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về phẩm chất nhà giáo

1.1.23. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về phát triển chuyên môn nghiệp vụ

1.1.24. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về xây dựng môi trường giáo dục

1.1.25. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về phát triển mối quan hệ giữa gia đình nhà trường và cộng đồng

1.1.26. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về sử dụng ngoại ngữ (tiếng dân tộc), ứng dụng công nghệ thông tin, khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em

1.1.27. So sánh sự khác biệt nhận thức của GVMN ở các trình độ khác nhau

1.1.28. So sánh sự khác biệt về nhận thức của GVMN theo thâm niên

1.1.29. Sự khác biệt nhận thức về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp theo kết quả đánh giá Chuẩn nghề nghiệp (mức đạt và mức khá)

1.1.30. Sự khác biệt giữa nhận thức về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp do được tham gia tập huấn hướng dẫn sử dụng chuẩn

1.1.31. Chuẩn nghề nghiệp đối với hoạt động tự rèn luyện phát triển bản thân GVMN

1.2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH, SƠ ĐỒ

1.2.1. Biểu đồ Biểu đồ 2. Tập huấn về chuẩn nghề nghiệp

1.2.2. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về phẩm chất nhà giáo

1.2.3. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về phát triển chuyên môn nghiệp vụ

1.2.4. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về xây dựng môi trường giáo dục

1.2.5. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về phát triển mối quan hệ giữa gia đình nhà trường và cộng đồng

1.2.6. Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của GVMN về sử dụng ngoại ngữ (tiếng dân tộc), ứng dụng công nghệ thông tin, khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em

1.2.7. Chuẩn nghề nghiệp đối với hoạt động tự rèn luyện phát triển bản thân GVMN

1.2.8. Khung năng lực nghề nghiệp của giáo viên

1.2.9. Khung đánh giá của giáo viên

1.2.10. Khung/Mô hình nghiên cứu

1.2.11. Các bước xây dựng phiếu khảo sát

1.2.12. Mô hình xây dựng các biến

1.2.13. Nội dung chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non

1.2.14. Quy trình đánh giá xếp loại GVMN theo chuẩn nghề nghiệp

1.2.15. Xếp loại chuẩn nghề nghiệp

1.2.16. Khung đánh giá hiệu xuất công việc của giáo viên

1.2.17. Mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA)

1.2.18. Mô hình Lí thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991)

Tóm tắt

I. Chuẩn nghề nghiệp là gì Tổng quan nhận thức GVMN

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (GVMN) là một hệ thống các yêu cầu về phẩm chất và năng lực, đóng vai trò như một thước đo quan trọng để định hướng và đánh giá hoạt động chuyên môn của nhà giáo. Theo định nghĩa trong Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT, chuẩn nghề nghiệp là “hệ thống phẩm chất, năng lực mà giáo viên cần đạt được để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em”. Việc ban hành và áp dụng bộ chuẩn này không chỉ nhằm mục đích quản lý mà còn là công cụ để mỗi giáo viên tự soi chiếu, nhận thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. Từ đó, họ có thể xây dựng kế hoạch phát triển chuyên môn bản thân một cách chủ động và hiệu quả. Luận án của Nguyễn Thị Hiền (2023) đã chỉ ra rằng, từ khi có chuẩn, nhận thức của GVMN về vai trò và trách nhiệm nghề nghiệp đã có những chuyển biến tích cực. Chuẩn không chỉ là những quy định cứng nhắc, mà còn là kim chỉ nam giúp giáo viên định hình con đường phát triển sự nghiệp, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Nó tạo ra một ngôn ngữ chung, một hệ quy chiếu thống nhất cho cả hệ thống giáo dục mầm non, từ cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo đến từng giáo viên, thúc đẩy một văn hóa chất lượng và trách nhiệm trong toàn ngành. Đây là nền tảng cốt lõi để xây dựng một đội ngũ nhà giáo mầm non chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

1.1. Khái niệm cốt lõi về chuẩn nghề nghiệp theo Thông tư 26

Theo Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT, khái niệm chuẩn nghề nghiệp được định nghĩa rõ ràng, bao gồm hai thành tố chính: phẩm chất và năng lực. Phẩm chất nhà giáo được hiểu là “tư tưởng, đạo đức, phong cách làm việc của giáo viên trong thực hiện công việc, nhiệm vụ”. Yếu tố này nhấn mạnh đến đạo đức, lương tâm và trách nhiệm của người thầy. Trong khi đó, năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non được định nghĩa là “khả năng thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao”. Năng lực này được cụ thể hóa qua 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí, bao quát các khía cạnh từ phát triển chuyên môn, xây dựng môi trường giáo dục, đến phối hợp với gia đình và ứng dụng công nghệ. Bộ chuẩn này không chỉ là một danh sách các yêu cầu, mà còn là một khung năng lực giáo viên toàn diện, giúp định hướng quá trình đào tạo, bồi dưỡng và tự rèn luyện của mỗi nhà giáo.

1.2. Vai trò của chuẩn đối với chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ

Chuẩn nghề nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Khi giáo viên nhận thức đúng và đầy đủ về các tiêu chí trong chuẩn, họ sẽ chủ động điều chỉnh phương pháp giảng dạy, cách thức tương tác với trẻ và cách tổ chức môi trường học tập. Ví dụ, tiêu chí về xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện sẽ thúc đẩy giáo viên tạo ra không gian học tập mà ở đó trẻ cảm thấy được yêu thương, tôn trọng và an toàn để khám phá. Tương tự, các tiêu chí về phối hợp với gia đình và cộng đồng giúp tạo ra một mạng lưới hỗ trợ toàn diện cho sự phát triển của trẻ. Chuẩn nghề nghiệp hoạt động như một công cụ đảm bảo chất lượng, giúp các nhà quản lý và chính giáo viên xác định được những lĩnh vực cần cải thiện, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp, cuối cùng mang lại lợi ích cao nhất cho trẻ em.

II. Thách thức trong đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn

Mặc dù chuẩn nghề nghiệp mang lại nhiều giá trị, việc triển khai và áp dụng vào thực tiễn vẫn đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là về nhận thức của chính đội ngũ giáo viên. Thực trạng nhận thức của giáo viên cho thấy một bộ phận không nhỏ vẫn xem việc đánh giá theo chuẩn là một gánh nặng hành chính, mang tính hình thức thay vì là một cơ hội để phát triển. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân An (2018) cũng chỉ ra rằng, dù đa số giáo viên nhận thấy lợi ích, vẫn còn tồn tại tâm lý e ngại, lo lắng về tính khách quan của quy trình đánh giá. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc thay đổi tư duy từ bị động, đối phó sang chủ động, tự giác. Nhiều giáo viên chưa quen với việc tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp một cách thẳng thắn, mang tính xây dựng. Họ có xu hướng nể nang, ngại va chạm, dẫn đến kết quả đánh giá chưa phản ánh đúng thực chất năng lực. Thêm vào đó, việc thu thập minh chứng để chứng minh cho các tiêu chí đôi khi còn rườm rà, tốn thời gian, khiến giáo viên cảm thấy áp lực. Vượt qua những rào cản nhận thức này là yếu tố then chốt để chuẩn nghề nghiệp thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hết vai trò của nó trong việc thúc đẩy chất lượng giáo dục.

2.1. Phân tích thực trạng nhận thức của giáo viên về chuẩn mới

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2023) tại quận Đống Đa cho thấy thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về chuẩn nghề nghiệp có sự phân hóa. Một nhóm giáo viên, đặc biệt là những người có thâm niên công tác lâu năm hoặc ít được tham gia tập huấn, có thể nhận thức chưa đầy đủ về mục đích sâu xa của chuẩn. Họ có thể chỉ tập trung vào việc hoàn thành các biểu mẫu đánh giá để đáp ứng yêu cầu của cấp trên. Ngược lại, nhóm giáo viên trẻ, được đào tạo bài bản và thường xuyên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lại có cái nhìn tích cực hơn. Họ xem chuẩn là một lộ trình phát triển rõ ràng, giúp họ xác định được mục tiêu phấn đấu. Sự khác biệt này cho thấy tầm quan trọng của công tác truyền thông, tập huấn để đảm bảo mọi giáo viên đều hiểu đúng, hiểu đủ và tin tưởng vào giá trị của chuẩn nghề nghiệp.

2.2. Khó khăn trong việc tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp

Quy trình tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp là một bước tiến quan trọng trong việc dân chủ hóa hoạt động quản lý chuyên môn, tuy nhiên đây cũng là khâu gặp nhiều vướng mắc. Khó khăn đầu tiên đến từ tâm lý ngại góp ý, sợ làm mất lòng đồng nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng các buổi đánh giá tại tổ chuyên môn đôi khi chỉ mang tính hình thức, thiếu đi những nhận xét sâu sắc và chân thành. Thứ hai, một số giáo viên còn thiếu kỹ năng phân tích, đối chiếu hoạt động thực tế của bản thân với các tiêu chí trong chuẩn để đưa ra những minh chứng xác thực. Hoạt động này đòi hỏi sự tự ý thức cao và khả năng phản tư nghề nghiệp, vốn là một kỹ năng cần được rèn luyện. Để khắc phục, các nhà quản lý cần tạo ra một môi trường làm việc cởi mở, tin tưởng, nơi mọi góp ý đều được trân trọng và xem là cơ hội để cùng nhau tiến bộ.

III. Cách chuẩn nghề nghiệp thay đổi nhận thức về phẩm chất

Chuẩn nghề nghiệp có tác động sâu sắc đến việc hình thành và củng cố nhận thức của giáo viên mầm non về phẩm chất nhà giáo. Trước đây, các khái niệm về đạo đức, phong cách có thể còn khá trừu tượng. Tuy nhiên, với các tiêu chí cụ thể trong chuẩn, giáo viên có một hệ quy chiếu rõ ràng để tự soi xét và điều chỉnh hành vi của mình. Tiêu chuẩn 1 của Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT tập trung trực tiếp vào “Phẩm chất nhà giáo”, với hai tiêu chí cốt lõi là “Đạo đức nhà giáo” và “Phong cách làm việc”. Các tiêu chí này yêu cầu giáo viên không chỉ yêu nghề, mến trẻ mà còn phải thể hiện qua những hành động cụ thể như đối xử công bằng, tôn trọng sự khác biệt của trẻ, có lối sống lành mạnh, và tác phong làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm. Việc phải thường xuyên tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp dựa trên các tiêu chí này buộc mỗi giáo viên phải nhìn nhận lại bản thân một cách nghiêm túc. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2023) khẳng định rằng, chuẩn nghề nghiệp đã làm thay đổi tích cực nhận thức của GVMN về phẩm chất, giúp họ ý thức rõ hơn về vai trò làm gương và tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non trong việc hình thành nhân cách cho trẻ.

3.1. Tác động đến đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non

Chuẩn nghề nghiệp đặt ra những yêu cầu cụ thể về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non, vượt ra ngoài những lời kêu gọi chung chung. Các tiêu chí như “chấp hành các quy định của ngành”, “trung thực trong công tác”, “đoàn kết, hỗ trợ đồng nghiệp” đã trở thành những chỉ báo đo lường được. Khi giáo viên nhận thức rằng những hành vi này được đánh giá một cách chính thức, họ sẽ có ý thức cao hơn trong việc tuân thủ. Đặc biệt, yêu cầu về bảo vệ quyền lợi và đảm bảo an toàn cho trẻ được nhấn mạnh, giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm, ngăn ngừa các hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo. Chuẩn nghề nghiệp đóng vai trò như một “bộ lọc”, giúp định hình và duy trì những giá trị đạo đức cốt lõi trong môi trường sư phạm.

3.2. Định hình phong cách làm việc và phẩm chất nhà giáo chuẩn

Tiêu chí “Phong cách làm việc” trong chuẩn nghề nghiệp giúp định hình một hình ảnh GVMN chuyên nghiệp, tận tụy và khoa học. Nó yêu cầu giáo viên phải có tác phong nhanh nhẹn, thái độ hòa nhã, kỹ năng giao tiếp ứng xử chuẩn mực với trẻ, phụ huynh và đồng nghiệp. Đây không còn là phẩm chất tự phát mà là một yêu cầu nghề nghiệp cần rèn luyện. Nhờ có chuẩn, giáo viên nhận thức được rằng phong cách làm việc cũng là một phần quan trọng của phẩm chất nhà giáo. Họ chủ động học hỏi để cải thiện cách tổ chức công việc, quản lý thời gian và giải quyết các tình huống sư phạm một cách bình tĩnh, khéo léo, góp phần xây dựng hình ảnh người giáo viên mầm non mẫu mực trong mắt xã hội.

IV. Phương pháp chuẩn nghề nghiệp nâng cao năng lực chuyên môn

Chuẩn nghề nghiệp không chỉ tác động đến phẩm chất mà còn là một công cụ hữu hiệu để định hướng và thúc đẩy việc nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non. Bốn tiêu chuẩn còn lại trong Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT (từ tiêu chuẩn 2 đến 5) đã vạch ra một khung năng lực giáo viên toàn diện. Các tiêu chí trong đó bao trùm mọi khía cạnh hoạt động của GVMN, từ việc lập kế hoạch giáo dục, tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, đến việc quan sát, đánh giá trẻ. Khi đối chiếu với chuẩn, giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những mảng kiến thức, kỹ năng mình còn yếu để từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ phù hợp. Chẳng hạn, một giáo viên có thể nhận thấy mình cần cải thiện kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin hoặc kỹ năng phối hợp với gia đình và cộng đồng. Chuẩn nghề nghiệp vì thế đã biến quá trình phát triển chuyên môn từ một nhiệm vụ do cấp trên giao phó thành một nhu cầu tự thân của mỗi giáo viên. Nó tạo ra động lực nội tại, khuyến khích giáo viên không ngừng học hỏi, cập nhật kiến thức và đổi mới phương pháp để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành giáo dục mầm non.

4.1. Thúc đẩy hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thường xuyên

Kết quả đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp là cơ sở quan trọng để nhà trường và các cấp quản lý xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Thay vì tổ chức các lớp bồi dưỡng đại trà, các hoạt động này giờ đây có thể được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của đội ngũ, tập trung vào những năng lực mà nhiều giáo viên còn yếu. Bản thân mỗi giáo viên, sau quá trình tự đánh giá, cũng chủ động tìm kiếm các khóa học, tài liệu hoặc học hỏi từ đồng nghiệp để bù đắp những thiếu hụt của mình. Chuẩn nghề nghiệp đã tạo ra một vòng lặp tích cực: Đánh giá để phát hiện nhu cầu -> Bồi dưỡng để đáp ứng nhu cầu -> Nâng cao năng lực -> Kết quả đánh giá tốt hơn. Quá trình này giúp hoạt động bồi dưỡng trở nên thiết thực và hiệu quả hơn bao giờ hết.

4.2. Định hướng xây dựng môi trường giáo dục an toàn và hiệu quả

Tiêu chuẩn 3 về xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện là một trong những điểm nhấn quan trọng của bộ chuẩn. Nó yêu cầu giáo viên không chỉ đảm bảo an toàn về thể chất mà còn phải tạo dựng một môi trường an toàn về tinh thần, nơi trẻ được tôn trọng, yêu thương và tự do thể hiện bản thân. Nhận thức được yêu cầu này, giáo viên sẽ chú trọng hơn đến việc thiết kế không gian lớp học, lựa chọn đồ dùng, đồ chơi phù hợp và đặc biệt là cách thức giao tiếp, ứng xử với trẻ. Họ hiểu rằng, một môi trường giáo dục tích cực là tiền đề cho sự phát triển toàn diện của trẻ, từ đó nỗ lực biến lớp học của mình thành một “ngôi nhà thứ hai” thực sự.

V. Kết quả nghiên cứu Ảnh hưởng của chuẩn đến nhận thức

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hiền (2023) đã cung cấp những bằng chứng khoa học cụ thể về ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp đến nhận thức của giáo viên mầm non. Nghiên cứu được thực hiện tại quận Đống Đa, Hà Nội, thông qua khảo sát và phỏng vấn sâu, đã chỉ ra một sự thay đổi tích cực rõ rệt trong nhận thức của đội ngũ giáo viên sau khi Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT được áp dụng. Kết quả cho thấy đại đa số giáo viên (trên 85%) đồng ý rằng chuẩn nghề nghiệp giúp họ “hiểu thêm về các lĩnh vực thuộc năng lực nghề nghiệp” và “xác định được đây là một công cụ giúp tự đánh giá”. Đáng chú ý, nghiên cứu cũng phát hiện ra sự khác biệt trong mức độ nhận thức giữa các nhóm giáo viên. Những người được tham gia tập huấn đầy đủ về chuẩn có nhận thức tích cực và sâu sắc hơn đáng kể so với nhóm không được tập huấn. Tương tự, có sự khác biệt về nhận thức theo thâm niên công tác và trình độ đào tạo. Những kết quả này không chỉ khẳng định vai trò của chuẩn mà còn gợi ý những hướng đi quan trọng trong công tác quản lý và bồi dưỡng đội ngũ, nhấn mạnh sự cần thiết của việc tập huấn và hỗ trợ giáo viên trong quá trình áp dụng đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp.

5.1. Phân tích kết quả đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn

Dữ liệu từ nghiên cứu cho thấy, quá trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp đã thúc đẩy giáo viên chủ động hơn trong việc đổi mới hoạt động giảng dạy. Các biểu đồ trong luận án chỉ ra rằng, sau khi áp dụng chuẩn, các hoạt động như xây dựng môi trường giáo dục an toànphối hợp với gia đình và cộng đồng được giáo viên chú trọng và thực hiện hiệu quả hơn. Kết quả xếp loại theo chuẩn cũng có sự tương quan với nhận thức. Những giáo viên được xếp loại Tốt và Khá thường có nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của các tiêu chí, cho thấy việc phấn đấu đạt chuẩn đã thực sự tạo ra động lực thay đổi từ bên trong. Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy chuẩn nghề nghiệp không chỉ là công cụ đo lường mà còn là đòn bẩy thúc đẩy chất lượng.

5.2. Sự khác biệt trong nhận thức theo thâm niên và trình độ

Một phát hiện thú vị từ luận án là sự khác biệt trong nhận thức theo các yếu tố nhân khẩu học. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm giáo viên có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên có xu hướng nhận thức về chuẩn nghề nghiệp một cách toàn diện và tích cực hơn. Tương tự, nhóm giáo viên có thâm niên công tác dưới 10 năm thường cởi mở hơn với việc áp dụng chuẩn và xem đây là cơ hội để phát triển chuyên môn bản thân. Trong khi đó, một bộ phận giáo viên lớn tuổi hơn có thể cần nhiều thời gian và sự hỗ trợ hơn để thay đổi thói quen làm việc cũ. Điều này cho thấy các chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cần được thiết kế một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng giáo viên để đạt hiệu quả cao nhất.

VI. Bí quyết và giải pháp nâng cao nhận thức về chuẩn GVMN

Để chuẩn nghề nghiệp thực sự phát huy hết hiệu quả, việc nâng cao nhận thức cho giáo viên là nhiệm vụ trọng tâm và cần được thực hiện một cách bài bản, liên tục. Dựa trên các kết quả nghiên cứu và thực tiễn, có thể đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức hiệu quả. Trước hết, công tác tập huấn, truyền thông cần được đẩy mạnh. Thay vì chỉ phổ biến văn bản, các buổi tập huấn cần được tổ chức dưới dạng thảo luận, thực hành, giải quyết các tình huống cụ thể để giáo viên thực sự “thẩm thấu” được tinh thần của từng tiêu chí. Thứ hai, cần xây dựng một môi trường sinh hoạt chuyên môn thực chất, nơi giáo viên có thể thoải mái chia sẻ khó khăn, học hỏi kinh nghiệm tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp. Vai trò của tổ trưởng chuyên môn và ban giám hiệu trong việc tạo dựng văn hóa cởi mở, hỗ trợ là cực kỳ quan trọng. Cuối cùng, cần gắn kết quả đánh giá theo chuẩn với các chính sách thi đua, khen thưởng và quy hoạch cán bộ một cách hợp lý để tạo động lực phấn đấu cho giáo viên. Khi nhận thức được nâng cao, mỗi giáo viên sẽ biến việc tuân thủ chuẩn nghề nghiệp thành nhu cầu tự thân, chủ động trên con đường phát triển chuyên môn bản thân.

6.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức cho giáo viên

Một trong những giải pháp nâng cao nhận thức hàng đầu là tăng cường vai trò của sinh hoạt tổ chuyên môn. Các buổi sinh hoạt cần tập trung phân tích sâu từng tiêu chí trong chuẩn, liên hệ với thực tế công việc hàng ngày của giáo viên. Tổ chức các hoạt động dự giờ, phân tích bài học dựa trên các tiêu chí của chuẩn sẽ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách áp dụng lý thuyết vào thực hành. Bên cạnh đó, việc xây dựng một kho minh chứng mẫu, các sáng kiến kinh nghiệm điển hình về việc thực hiện tốt chuẩn nghề nghiệp và chia sẻ rộng rãi trong toàn trường cũng là một cách làm hiệu quả, giúp giáo viên có định hướng rõ ràng và học hỏi lẫn nhau. Đồng thời, nhà trường cần tạo điều kiện và khuyến khích giáo viên tham gia các khóa bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liên quan trực tiếp đến các năng lực trong chuẩn.

6.2. Hướng phát triển chuyên môn bản thân dựa trên khung năng lực

Mỗi giáo viên cần được hướng dẫn để xem khung năng lực giáo viên trong chuẩn nghề nghiệp như một bản đồ phát triển sự nghiệp cá nhân. Dựa vào kết quả tự đánh giá hàng năm, giáo viên có thể tự xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển chuyên môn bản thân với các mục tiêu cụ thể cho năm học tiếp theo. Ví dụ, một giáo viên có thể đặt mục tiêu trong năm tới sẽ nâng cao năng lực “sử dụng ngoại ngữ” hoặc “ứng dụng công nghệ thông tin”. Kế hoạch này cần được tổ trưởng chuyên môn và ban giám hiệu góp ý, hỗ trợ về tài liệu, cơ hội học tập. Khi mỗi cá nhân chủ động trong việc tự hoàn thiện, chất lượng chung của cả đội ngũ sẽ được nâng lên một cách bền vững, đáp ứng đúng tinh thần và mục tiêu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non.

18/09/2025
Ảnh hưởng của chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non đến nhận thức của giáo viên trường mầm non công lập nghiên cứu trường hợp tại quận đống đa thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 này, tác giả tiến hành phân tích cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến luận án để đề ra phương pháp nghiên cứu phù hợp cho luận án. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Cấu trúc phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của giáo viên 1. Cấu trúc phẩm chất năng lực GV Khi nghiên cứu về cấu trúc năng lực của GV, người ta thường phân chia cấu trúc năng lực thành các nhóm cấu trúc khác nhau, tùy theo quan điểm của cá nhân, như Litvin, S.

cho rằng cấu trúc năng lực nghề nghiệp của GV gồm 4 thành phần như phương pháp giảng dạy, mục tiêu của giáo viên đặt ra, cách tổ chức lớp học, các điều kiện cơ sở vật chất trong lớp, thành tích của học sinh (Litvin, S. Nghiên cứu của Seidel và Shavelson cho rằng cấu trúc năng lực của người GV gồm 08 thành phần trong đó bao gồm bốn thành phần liên quan đến bối cảnh giảng dạy và sự tham gia vào hoạt động học tập là (a) kiến thức theo nội dung môn học khác nhau (ví dụ, toán học, đọc hiểu, khoa học) “(b) thời gian dành cho học tập, trong đó có tính đến lượng thời gian dành cho việc giảng dạy và thời gian dành cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập”, (c) quản lý lớp học, và (d) thiết lập một môi trường học tập trong lớp học. "Bốn thành phần trung tâm khác là (a)" thiết lập / định hướng mục tiêu, (b) "thực hiện các hoạt động học tập", (c) "đánh giá", và (d) "quy định về giám sát" (Seidel, 2007, tr. Tác giả Got và Bell cho rằng năng lực nghề nghiệp của giáo viên bao gồm việc quan sát lớp học, phân tích điều kiện trong lớp, cơ sở vật chất, tổ chức hoạt động thực hành giảng dạy và đánh giá học sinh (Mallon, M.

Như vậy, mặc dù các phân chia theo nhóm 04 hay 08 nhóm, các tác giả trên đều đã thống nhất năng lực nghề nghiệp bao gồm yếu tố trường học, khả 8 năng của giáo viên, các yếu tố và nguồn lực trong lớp học, bối cảnh giảng dạy và sự tham gia vào hoạt động học tập, và các phương pháp đánh giá cụ thể của giáo viên. Một số tác giả trong nước như tác giả Nguyễn Đức Vũ đã chỉ ra năng lực nghiệp vụ sư phạm của GV bao gồm: 1/Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; 2/Năng lực dạy học, gồm Lập kế hoạch bài học và kế hoạch bài dạy; Thực hiện kế hoạch dạy học; Vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; Sử dụng phương tiện dạy học; Xây dựng môi trường dạy học; Đánh giá kết quả học tập của người học (Nguyễn Đức Vũ, 2012). Tác giả Đoàn Nguyệt Linh đã chỉ ra 14 tiêu chí cho kỹ năng dạy học môn lịch sử, bao gồm: (1) Xây dựng mục tiêu bài dạy phù hợp, (2) Tổ chức và quản lý tốt lớp học, (3) Sử dụng hợp lý phương pháp dạy học, (4) Tìm kiếm tài liệu bổ sung cho nội dung bài dạy, (5) Chuẩn bị giáo án sáng tạo, tùy vào nội dung và đối tượng dạy học, (6) Sử dụng hợp lý phương tiện dạy học, (7) Kinh nghiệm kích thích tính tích cực và nhu cầu, nhận thức của người học, (8) Có kinh nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh công bằng khách quan và chính xác, (9) Có khả năng sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong dạy học, (10) Có khả năng tương tác với học sinh trong môi trường dạy học đa phương tiện hiệu quả, (11) Phân phối thời gian hợp lý, hiệu quả, phù hợp trình độ, (12) Có phòng cách sư phạm chuẩn mực, (13) Duy trì thường xuyên bầu không khí học tập cho mọi thành viên trong lớp, (14) Biết khen chê kịp thời, đúng đối tượng, để khuyến khích học sinh (Đoàn Nguyệt Linh, 2015). Dựa vào các năng lực cốt lõi của CBQL trường học và GV; những hạn chế, bất cập của các hình thức đánh giá (đánh giá theo Chuẩn; đánh giá theo quy định của công chức, viên chức; khảo sát định kì).

Tác giả Nguyễn Quốc Anh và các cộng sự đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá CBQL, GV, theo 3 nhóm: + Năng lực chung; + Năng lực chuyên môn/đặc thù; + Năng lực quản lí, bao gồm 8 tiêu chuẩn và 37 tiêu chí: Trong đó, tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, với 4 tiêu chí (từ tiêu chí 8 đến tiêu chí 11); tiêu chuẩn 6: 9 Năng lực phát triển nghề nghiệp, với 4 tiêu chí (từ tiêu chí 25-28); tiêu chuẩn 8: Năng lực tổ chức hoạt động chính trị, xã hội với 3 tiêu chí (từ 35-37). Ngoài ra, còn bổ sung thêm một số nội dung ở các tiêu chí: 18, 19, 20, 21, 33 để cụ thể hóa thêm trong bộ tiêu chí đánh giá (Nguyễn Quốc Anh, 2018); Trường đại học Sư phạm chia năng lực nghề nghiệp của giáo viên được cấu trúc thành các nhóm, gồm (i) năng lực dạy học (năng lực giáo dục), gồm phân tích chương trình và học liệu; thiết kế kế hoạch dạy học và giáo dục; sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại; tổ chức và quản lí lớp học; Phối hợp với cha mẹ học sinh (CMHS), (ii) năng lực định hướng sự phát triển của học sinh, (iii) năng lực phát triển cộng đồng, (iv) năng lực phát triển cá nhân, bao gồm năng lực học; năng lực giao tiếp; năng lực thích ứng môi trường; năng lực nghiên cứu khoa học (Trường đại học Sư phạm, 2018). Khung năng lực nghề nghiệp của giáo viên Dựa trên cấu trúc năng lực các tác giả đã đưa ra, có thể thấy hầu hết đều tập trung đưa ra khung năng lực nghề nghiệp chưa thể hiện được phẩm chất nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp. Tuy nhiên nhìn trên các chỉ số có 10 thể thấy các tiêu chí về phẩm chất nghề nghiệp đã được đặt trong các tiêu chuẩn như tác giả Đoàn Nguyệt Linh đã chỉ ra năng lực bao gồm từ chỉ số 1 đến chỉ số 8; phẩm chất bao gồm từ chỉ số 9 đến chỉ số 14.

Tác giả Nguyễn Quốc Anh xây dựng tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp, với 4 tiêu chí (từ tiêu chí 25-28); tiêu chuẩn 8: Năng lực tổ chức hoạt động chính trị, xã hội với 3 tiêu chí (từ tiêu chí 35-37). Cấu trúc phẩm chất và năng lực giáo viên mầm non Khung năng lực GVMN được UNESCO, xây dựng gồm bốn khung: 1) kiến thức về nội dung giảng dạy, thực hành sư phạm và đánh giá; 2) môi trường học tập 3) tham gia và hợp tác; 4) phát triển chuyên môn. Lồng ghép trong bốn nội dung về năng lực này là 1 bộ gồm 7 chuẩn năng lực tổng quát hay năng lực cốt lõi liên quan đến những nội dung chung về trách nhiệm của giáo viên mầm non và những năng lực bổ trợ của giáo viên mầm non, hoặc kiến thức/nhiệm vụ cụ thể mà giáo viên mầm non nên có khả năng thực hiện được hay thể hiện để trợ giúp cho mỗi chuẩn năng lực tổng quát nói trên. Khung năng lực giáo viên mầm non khu vực Đông Nam Á 11 Những năng lực này được hỗ trợ bởi một nhóm bao gồm các năng lực hỗ trợ giúp giáo viên GDMN có thể thể hiện được khả năng trong phạm vi về kiến thức về nội dung giảng dạy, thực hành sư phạm và đánh giá, trong đó tiêu chuẩn 1 có 9 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 2 có 12 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 3 có 14 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 4 có 11 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 5 có 8 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 6 có 9 năng lực hỗ trợ, tiêu chuẩn 7 có 9 năng lực hỗ trợ (phụ lục Khung năng lực GVMN khu vực Đông Nam Á).

Mặc dù khung này tuy không đề cập cụ thể đến phẩm chất, nhưng trong các thành tố của 7 tiêu chuẩn có đề cập đến các năng lực cần có về phẩm chất: (i) giao tiếp với tất cả trẻ em với thái độ yêu thương và quan tâm, chăm sóc; (ii) chủ động lắng nghe trẻ và luôn kịp thời phản hồi các nhu cầu của trẻ; (iii) luôn thống nhất trong việc làm gương để cho trẻ thấy được những hành vi, thái độ mong muốn có được từ trẻ (tiêu chuẩn 3); (iv) hợp tác với các giáo viên mầm non khác để chia sẽ thông tin, kiến thức, học tập và hỗ trợ lẫn nhau (tiêu chuẩn 6); (v) hành xử với thái độ chuyên nghiệp và đạo đức, bao gồm tôn trọng quan điểm và văn hóa khác nhau, giữ gìn đạo đức và giá trị, và hợp tác với đồng nghiệp, như đã được đề cập trong qui định, luật pháp quốc gia cũng như trong các chuẩn đạo đức hành nghiệp có liên quan đến mầm non (tiêu chuẩn 7). Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã xây dựng khung đánh giá GVMN, GVPT, gồm có 5 tiêu chuẩn, mỗi tiêu chuẩn gồm 6 tiêu chí, tổng là 30 tiêu chí. Khung đánh giá của giáo viên Khung đánh giá GV nói chung và GVMN nói riêng mặc dù không thể hiện rõ tiêu chuẩn về phẩm chất nghề nghiệp, mà được đặt trong các tiêu chí năng lực, ví dụ tiêu chí 2. số tiêu chí này có thể đảm bảo xây dựng thành tiêu chuẩn về phẩm chất nghề nghiệp.

Một số tác giả như Hồ Lam Hồng, đã xác định năng lực nghề nghiệp GVMN bao gồm (i) năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; (ii) năng lực dạy học; (iii) năng lực giáo dục; (iv) năng lực hoạt động chính trị, xã hội; (v) năng lực phát triển nghề nghiệp và (vi) phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (Hồ Lam Hồng, 2012). Tác giả Cù Thị Thủy, cho rằng năng lực nghề nghiệp GVMN, bao gồm (i) kỹ năng tìm hiểu đối tượng trẻ và việc học của trẻ từng độ tuổi (nhà trẻ và mẫu giáo) thông qua việc quan sát hành vi, điều tra bằng các kỹ thuật thông thường (đặt câu hỏi, hoặc thông qua sản phẩm hoạt động của trẻ…); (ii) kỹ năng quản lý trẻ, quản lý thời gian và các nguồn lực; (iii) kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục, bao gồm lập kế hoạch, sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với từng hoạt động cụ thể, kỹ năng xây dựng môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn và tận dụng tối đa 13 điều kiện sẵn có của địa phương; (iiii) kỹ năng dạy học và tác động giáo dục trực tiếp, phù hợp với trẻ theo từng độ tuổi, bao gồm giao tiếp ứng xử với trẻ; hướng dẫn trẻ thực hiện các bài tập; quan sát theo dõi, đánh giá quá trình phát triển của trẻ (Cù Thị Thủy, 2017).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ