Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN ĐẦU RA Trong chương này, tác giả sẽ trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu của các tổ chức EU, ABET, mô hình CDIO, các trường ĐH, CĐ và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về CĐR để chúng ta có một cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu. Tiếp đến tác giả sẽ trình bày một số khái niệm, quan niệm có liên quan đến CĐR, làm rõ các thuật ngữ “ngành quản lý hành chính về trật tự xã hội”, “chuyên ngành Cảnh sát khu vực”, các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số thực hiện có liên quan đến lĩnh vực đo lường, đánh giá để chúng ta hiểu về CĐR của một chuyên ngành đào tạo. Một lý thuyết có ý nghĩa rất quan trọng trong ngành giáo dục là cơ sở để xây dựng CĐR sẽ được trình bày trong chương này, đó là lý thuyết Bloom quy định cụ thể các cấp độ nhận thức của người học, có liên quan đến kiến thức, kỹ năng, thái độ của sinh viên tốt nghiệp ra trường, là căn cứ để viết CĐR chuyên ngành CSKV bậc CĐ tại trường CĐ CSND 2.
Vai trò của CĐR trong quá trình đào tạo sẽ được trình bày để chúng ta có thể thấy tầm quan trong trong việc xây dựng, công bố và thực hiện CĐR của một ngành đào tạo, CTĐT. Tổng quan các công trình nghiên cứu về Chuẩn đầu ra Vấn đề nghiên cứu xây dựng CĐR tại các trường ĐH, CĐ. đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Những nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu thường tập trung vào việc giải quyết các vấn đề về khái niệm CĐR, đưa ra những tiêu chuẩn, tiêu chí và những chỉ số mà một SVTN cần phải có về kiến thức, kỹ năng, thái độ và những vấn đề lý luận có liên quan đến CĐR của CTĐT.
Tổng quan nghiên cứu nước ngoài về Chuẩn đầu ra Thuật ngữ “Learning outcomes” trong tiếng Anh dịch ra tiếng Việt có thể hiểu theo 2 cách: thứ nhất là “chuẩn đầu ra” và thứ hai là “kết quả học tập”. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nghiên cứu này tác giả hiểu theo cách thứ nhất: chuẩn đầu ra (learning outcomes) và đánh giá chuẩn đầu ra (learning outcomes assessment). Việc nghiên cứu và công bố CĐR được thực hiện ở rất nhiều trường ĐH trên thế giới, quá trình xây dựng CĐR và khung CTĐT được thực hiện theo mô hình Conceive - Design - Implement - Operate (CDIO). Có thể kể đến một số ĐH sau: Massachusetts Institute of Technology (Cambridge, Massachusetts, United States) Queen's University (Kingston, Ontario, Canada) Shantou University (Shantou, Guangdong, China) Technical University of Denmark (Kgs.
Lyngby, Denmark ) Một số nghiên cứu: Aisha Labi: “OECD dự án quốc tế tìm kiếm các biện pháp về Đánh giá chất lượng giáo dục” (http://ceea.vn/thong-bao-tin-tuc/tin-tuc-bang-tieng-anh/248) Assessment of learning outcomes in higher education (Đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học) OECD Education Working Paper No. 15 “Quality Assurance and Accreditation: A Glossary of Basic Terms and Definition”, UNESCO-CEPES, 2007 Các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung trình bày, phân tích một số nội dung liên quan đến CĐR: • Định nghĩa CĐR • Quy trình xây dựng CĐR • Lợi ích của việc xây dựng CĐR • Làm thế nào để viết CĐR • Làm thế nào để liên kết CĐR với việc đánh giá? ABET là một tổ chức kiểm định chất lượng chương trình kỹ thuật có uy tín trong cộng đồng quốc tế được thành lập vào năm 1932. Tiền thân của tổ chức ABET là Hội đồng kỹ sư phát triển chuyên nghiệp (ECPD), một cơ quan chuyên môn kỹ thuật dành riêng cho giáo dục, kiểm định chất lượng, quy định, và phát triển chuyên môn của các chuyên gia kỹ thuật và sinh viên tại Hoa Kỳ. Chức năng chính 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của ABET: thực hiện các kiểm định chương trình giáo dục, thúc đẩy chất lượng và sự đổi mới các chương trình giáo dục… Tổ chức ABET đưa ra 09 tiêu chí kiểm định chương trình kỹ thuật bao gồm: 1/.
Các mục tiêu giáo dục của chương trình; 3/. Các kết quả kỳ vọng của chương trình; 4/. Sự cải tiến liên tục; 5/. Ban giảng huấn; 7/.
Cơ sở vật chất; 8/. Sự hỗ trợ; 9/. Các tiêu chí chương trình. [37] Trên trang web của ABET, tác giả Gloria Rogers (2003) với tài liệu “Đánh giá để đảm bảo chất lượng” cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu về CĐR.
Theo Bà, định nghĩa CĐR là “phát biểu mô tả những gì sinh viên biết được hoặc có thể làm được sau thời gian học tại trường. Nếu sinh viên đạt được những kết quả đầu ra đó thì điều đó có thể cho thấy được mình đã thành công với mục tiêu giáo dục của mình”. [37] Qua đó, Bà đưa ra mô hình đánh giá ĐBCL như sau: Tầm nhìn/Sứ mạng Mục tiêu giáo dục Chuẩn đầu ra Đánh giá Các tiêu chí Thành tố liên quan Ý kiến phản hồi của Chiến lược thực hiện chuẩn đầu các đối tượng liên quan ra Đo lường: thu thập, phân Đánh giá: diễn giải các tích bằng chứng bằng chứng Hình 1. Mô hình đánh giá nhằm ĐBCL của Gloria Rogers 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua sơ đồ trên ta thấy được để xây dựng CĐR của CTĐT chúng ta phải dựa vào 2 thông tin quan trọng là tầm nhìn/sứ mạng và mục tiêu giáo dục để đề xuất CĐR.
Từ CĐR, Bà đưa ra các tiêu chí, chỉ số để từ đó có chiến lược cụ thể để thực hiện. Qua đó, giúp ta có kế hoạch để thu thập, phân tích dữ liệu và đánh giá phù hợp. Ngoài ra, theo Gloria Rogers thì ý kiến phản hồi của các đối tượng có liên quan (ví dụ: chuyên gia, nhà tuyển dụng, giảng viên, cựu SV.) cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng CĐR, xác định các tiêu chí, các chiến lược thực hiện, cách thu thập dữ liệu, đánh giá. [17] Dự án quốc tế có tên gọi Sáng kiến CDIO bao gồm các chương trình về lĩnh vực giáo dục kỹ thuật đã được khởi xướng vào tháng 10 năm 2000 nhằm giúp cải cách hệ thống giáo dục cho SV ngành kỹ thuật.
CDIO (Conceive – hình thành ý tưởng; Design – thiết kế ý tưởng; Implement – thực hiện; Operate – vận hành) là một giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội trên cơ sở xác định chuẩn đầu ra (CĐR) để thiết kế chương trình và phương pháp đào tạo theo một quy trình khoa học. Xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận CDIO nhằm đào tạo SV phát triển toàn diện cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực thực tiễn (năng lực C-D-I-O) và có ý thức trách nhiệm với xã hội. Theo cách tiếp cận CDIO, khi xây dựng và nâng cấp các CTĐT phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ, từ khâu xây dựng CĐR, thiết kế khung chương trình, chuyển tải khung chương trình vào thực tiễn và đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng như toàn bộ Chương trình. CDIO là một sáng kiến mới cho giáo dục, là một hệ thống các phương pháp và hình thức tích lũy tri thức, kỹ năng trong việc đào tạo SV để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội.
Khởi nguồn từ Viện công nghệ MIT (Hoa Kỳ), cho đến nay mạng lưới các trường đại học áp dụng CDIO trên thế giới đang ngày càng tăng lên, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. CDIO xuất phát là một hệ thống phương pháp phát triển các CTĐT kỹ sư nhưng về bản chất, CDIO là một quy trình đào tạo chuẩn và căn cứ vào đầu ra (outcome-based) để thiết kế đầu vào. Quy trình này được xây dựng một cách khoa học, hợp lý, logic và về phương pháp tổng thể mang tính chung hóa có 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể áp dụng để xây dựng quy trình chuẩn cho nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau ngoài ngành kỹ sư (với những sự điều chỉnh, bổ sung cần thiết), trong đó có khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh. Việc tiếp cận theo phương pháp CDIO sẽ đem lại các lợi ích sau: Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO gắn với nhu cầu của người tuyển dụng, từ đó giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường và yêu cầu của nhà sử dụng nguồn nhân lực; Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp người học phát triển toàn diện với các “kỹ năng cứng” và “kỹ năng mềm” để nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc luôn thay đổi; Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp các CTĐT được xây dựng và thiết kế theo một quy trình chuẩn.
Các công đoạn của quá trình đào tạo sẽ có tính liên thông và gắn kết chặt chẽ; Cách tiếp cận CDIO là cách tiếp cận phát triển, gắn phát triển chương trình với chuyển tải và đánh giá hiệu quả giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học lên một tầm cao mới. CĐR cho ngành kỹ sư theo phương pháp CDIO được xây dựng dựa vào nghiên cứu nhu cầu thị trường và được thể hiện ở 4 nội dung chính: (1) khối kiến thức (lý thuyết) chuyên ngành và lập luận (technical knowledge and reasoning), (2) các kỹ năng và thái độ cá nhân và nghề nghiệp (professional and personal skills and attitudes), (3) các kỹ năng và thái độ xã hội (interpersonal skills and attitudes), và (4) khối kiến thức kỹ năng CDIO trong bối cảnh xã hội và doanh nghiệp (CDIO in social and enterprise context). Chuẩn đầu ra CDIO (cấp độ 1) áp dụng cho ngành kỹ sư 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy đối với một SV ngành kỹ sư ra trường thì cần đạt được 4 nội dung chính về yêu cầu sản phẩm đầu ra nêu trên. 3 nội dung đầu về sản phẩm đầu ra – (1) khối kiến thức (lý thuyết) chuyên ngành và lập luận (technical knowledge and reasoning), (2) các kỹ năng và thái độ cá nhân và nghề nghiệp (professional and personal skills and attitudes), và (3) các kỹ năng và thái độ xã hội (interpersonal skills and attitudes) – chính là 3 nền tảng để tạo ra 4 năng lực C-D-I-O (hình thành ý tưởng – thiết kế ý tưởng – thực hiện – và vận hành) cho mỗi sinh viên kỹ sư ra trường.
Trên cơ sở từ những nghiên cứu của các tổ chức EU, ABET, mô hình xây dựng chương trình đào tạo CDIO và các trường đại học, hiệp hội… của nước ngoài về CĐR. Các vấn đề nghiên cứu đã đưa ra một số tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo liên quan đến CĐR và một số năng lực quan trọng cần thiết khi SVTN cần phải đạt được chủ yếu tập trung vào 03 lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng, thái độ đạo đức.