Chủ trương của Đảng về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp tại Hà Đông từ 1958 đến 1965

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu ussh chủ trương của đảng về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1958 đến năm 1965 qua nghiên cứu, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Ở TỈNH HÀ ĐÔNG TỪ NĂM 1958 ĐẾN NĂM 1960

1.1. Chủ trƣơng xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp của Đảng

1.2. Xây dựng tổ đổi công, vần công tiến lên hợp tác xã bậc thấp ở tỉnh Hà Đông

1.3. Chủ trương của Tỉnh ủy Hà Đông

1.4. Chỉ đạo xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TỪ BẬC THẤP LÊN BẬC CAO VÀ HIỆN THỰC HÓA Ở HÀ ĐÔNG TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965

2.1. Chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng

2.2. Phát triển hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao ở tỉnh Hà Đông

2.3. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Đông

2.4. Quá trình tổ chức thực hiện

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Nhược điểm

3.2. Kinh nghiệm lịch sử

3.3. Cần nhận thức đúng đắn về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

3.4. Trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng, địa phương cần chủ động vận dụng để tạo ra tính hiệu quả của nền kinh tế, không áp dụng cứng nhắc, xây dựng mô hình kinh tế phù hợp với địa phương

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông

Chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông từ năm 1958 đến 1965 là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của Đảng. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng, và việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trở thành nhiệm vụ hàng đầu. Hợp tác xã nông nghiệp không chỉ giúp cải thiện đời sống nông dân mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng đã xác định rõ mục tiêu và phương pháp để thực hiện chủ trương này, nhằm đưa nông dân từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, quy mô lớn.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị ở Hà Đông giai đoạn 1958 1965

Giai đoạn 1958-1965, Hà Đông là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất, Đảng đã đưa ra nhiều chính sách nhằm khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp. Sự chuyển mình này không chỉ giúp nông dân cải thiện đời sống mà còn góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước.

1.2. Mục tiêu và phương pháp xây dựng hợp tác xã nông nghiệp

Mục tiêu chính của chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức nông dân vào các hình thức sản xuất tập thể. Đảng đã đề ra phương pháp từng bước, từ tổ đổi công đến hợp tác xã bậc thấp, nhằm đảm bảo sự tự nguyện và lợi ích cho nông dân. Điều này giúp nông dân dần dần nhận thức được lợi ích của việc hợp tác trong sản xuất.

II. Vấn đề và thách thức trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp

Mặc dù có nhiều thành công, nhưng quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông cũng gặp không ít thách thức. Các vấn đề như cơ chế quản lý, phân phối thu nhập và sự thiếu hụt nguồn lực đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã. Đặc biệt, một số hợp tác xã đã tan vỡ do áp lực từ các sai lầm trong cải cách ruộng đất và tổ chức sản xuất.

2.1. Những khó khăn trong việc tổ chức và quản lý hợp tác xã

Việc tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm và nguồn lực. Nhiều hợp tác xã không có cơ chế quản lý hiệu quả, dẫn đến tình trạng phân phối thu nhập không công bằng giữa các xã viên.

2.2. Tác động của sai lầm trong cải cách ruộng đất

Sai lầm trong cải cách ruộng đất đã gây ra nhiều hệ lụy cho quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Nhiều nông dân không còn đất canh tác, dẫn đến sự thiếu hụt nguồn lực cho các hợp tác xã, làm giảm hiệu quả sản xuất.

III. Phương pháp và giải pháp chính trong xây dựng hợp tác xã

Để khắc phục những thách thức, Đảng đã đề ra nhiều phương pháp và giải pháp nhằm củng cố và phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Việc giáo dục chính trị cho nông dân, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và cải thiện cơ chế quản lý là những giải pháp quan trọng. Đặc biệt, việc phát triển các hình thức hợp tác xã từ thấp đến cao đã được thực hiện một cách linh hoạt.

3.1. Giáo dục và tuyên truyền cho nông dân

Giáo dục và tuyên truyền cho nông dân về lợi ích của việc tham gia hợp tác xã nông nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng. Đảng đã tổ chức nhiều buổi hội thảo, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của nông dân về sản xuất tập thể.

3.2. Cải thiện cơ chế quản lý và phân phối thu nhập

Cải thiện cơ chế quản lý và phân phối thu nhập trong các hợp tác xã nông nghiệp là cần thiết để đảm bảo công bằng và hiệu quả. Việc áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và minh bạch sẽ giúp tăng cường sự tin tưởng của nông dân vào hợp tác xã.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hợp tác xã nông nghiệp

Kết quả từ quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông đã cho thấy nhiều bài học quý giá. Những hợp tác xã thành công đã góp phần cải thiện đời sống nông dân, tăng cường sản xuất và ổn định kinh tế nông thôn. Các mô hình hợp tác xã hiệu quả đã được nhân rộng và áp dụng ở nhiều địa phương khác.

4.1. Những mô hình hợp tác xã thành công

Một số mô hình hợp tác xã nông nghiệp thành công đã được xây dựng tại Hà Đông, giúp nông dân tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Những mô hình này đã trở thành điểm sáng trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp cho thấy sự cần thiết của việc tổ chức chặt chẽ, quản lý hiệu quả và giáo dục chính trị cho nông dân. Những yếu tố này là chìa khóa để phát triển bền vững trong nông nghiệp.

V. Kết luận và tương lai của hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông

Chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông từ năm 1958 đến 1965 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử phát triển nông nghiệp. Những thành công và bài học từ giai đoạn này sẽ là nền tảng cho việc phát triển hợp tác xã trong tương lai. Đảng cần tiếp tục có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích nông dân tham gia vào các hình thức sản xuất tập thể.

5.1. Định hướng phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong tương lai

Định hướng phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản xuất, cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng cường sự liên kết giữa các hợp tác xã. Điều này sẽ giúp nông dân có thêm cơ hội phát triển và nâng cao đời sống.

5.2. Vai trò của chính sách trong phát triển hợp tác xã

Chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể để khuyến khích nông dân tham gia vào các hình thức sản xuất tập thể, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của nông nghiệp.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHỦ TRƢƠNG XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Ở TỈNH HÀ ĐÔNG TỪ NĂM 1958 ĐẾN NĂM 1960 1. Chủ trƣơng xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp của Đảng Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã mở ra cho đất nước thời kỳ phát triển với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau ở hai miền. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để củng cố miền Bắc về mọi mặt, Trung ương Đảng chủ trương hoàn thành cải cách ruộng đất ở toàn miền Bắc, đồng thời tiến hành khôi phục kinh tế, nâng cao sản xuất để hàn gắn vết thương chiến tranh.

Tăng cường từng bước bộ phận kinh tế quốc doanh (trước hết là mậu dịch quốc doanh) và bắt đầu xây dựng bộ phận kinh tế hợp tác xã. Đây là giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời kỳ cách mạng, mà nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành triệt để những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ nhân dân, đồng thời tạo cơ sở ban đầu để đưa miền Bắc đi vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bước sang giai đoạn cách mạng mới, Đảng cho rằng nếu cứ để nông dân tự sản xuất riêng lẻ thì dần dần số đông sẽ nghèo đói, còn một số ít sẽ trở thành phú nông. Vì vậy cần tổ chức nông dân vào tổ đổi công rồi tiến dần lên các hợp tác xã.

Đó là con đường đưa nông dân đến ấm no, hạnh phúc. Tháng 8 năm 1955, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, phương châm, điều kiện khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc. Hội nghị chỉ rõ thời hạn trong vòng hai năm khôi phục kinh tế, căn bản đưa nền sản xuất lên ngang bằng mức trước chiến tranh. Hội nghị cũng chỉ rõ khôi phục kinh tế nhằm hàn gắn những vết thương chiến tranh là phương châm chính khôi phục kinh tế nhưng đồng thời phát triển ở 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức độ nhất định.

Mọi công tác kinh tế phải góp phần vào việc củng cố miền Bắc, đồng thời phải chiếu cố miền Nam một cách thích đáng. Khôi phục kinh tế nhằm phục hồi và phát triển nông nghiệp là chính, là đầu mối cho mọi lĩnh vực khôi phục: “Trong việc khôi phục kinh tế phải đặc biệt chú trọng việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, bao gồm sản xuất lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp; phải dựa vào khôi phục sản xuất nông nghiệp để khôi phục các ngành khác, khôi phục cả nền kinh tế quốc dân” [45, tr. Trên cơ sở khẳng định tính chất đặc biệt trọng yếu của sản xuất nông nghiệp “là mấu chốt của việc khôi phục nền kinh tế quốc dân, mấu chốt của toàn bộ công tác kinh tế tài chính của chúng ta. Sản xuất nông nghiệp liên quan đến đời sống của nông dân, bởi đại đa số nhân dân nước ta…[45, tr.

Báo cáo của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị đã xác định đường lối phát triển nông thôn sau cải cách ruộng đất của chúng ta là hướng dẫn kinh tế nông nghiệp tiến dần từng bước lên Chủ nghĩa xã hội, qua vận động hợp tác xã để chuyển dần kinh tế cá thể lên kinh tế tập thể có tính chất xã hội chủ nghĩa. Con đường của nông thôn từ sau cải cách ruộng đất đến lúc thực hiện nông nghiệp xã hội chủ nghĩa là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp. Phải đi dần từng bước, không thể nóng vội. Với khẩu hiệu nắm vững lãnh đạo, tiến dần từng bước sau cải cách ruộng đất để xây dựng nền kinh tế tập thể cần nắm ba việc: Vận động tổ đổi công; Vận động hợp tác xã mua bán; Vận động hợp tác xã tín dụng [45, tr.

Việc phát triển ba cuộc vận động đó và làm cho có kết quả tốt thì sẽ hạn chế được sự bóc lột của phú nông và kinh tế hợp tác xã sẽ thắng kinh tế phú nông. Dần dần từ chỗ thí nghiệm hợp tác xã nông nghiệp tiến lên phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Sau này nước nhà công nghiệp hóa, nhà nước có đủ máy cày, máy bừa, máy gặt đập liên hợp, máy bơm nước…cho hợp tác xã nông nghiệp thuê thì nhiều hợp tác xã nông nghiệp có thể hợp nhất là thành nông trường tập thể. Lúc đó nông nghiệp sẽ xã hội hóa [45, tr.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo cũng nêu rõ: “Sau cải cách ruộng đất phải tích cực tổ chức nông dân lại để phát triển sản xuất nông nghiệp. Phải giáo dục giúp đỡ nông dân tự nguyện, tự giác đi vào con đường làm ăn tập thể, là con đường đem lại cho nông dân đời sống ấm no. Phải nắm vững công tác trung tâm ở nông thôn sau cải cách ruộng đất là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất lương thực, đồng thời tùy khả năng mà chăm lo đẩy mạnh các ngành khác trong nông nghiệp: cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp” [45, tr. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa II đã xác định “Chủ trương của ta đối với nông thôn sau cải cách ruộng đất là lãnh đạo nông dân sản xuất và đấu tranh để dần tiên lên Chủ nghĩa xã hội, ngăn ngừa nông dân đi vào con đường tư bản chủ nghĩa.

Muốn đi đến mục đích đó, ta cần phải kết hợp công tác tổ chức kinh tế và công tác giáo dục chính trị, thông qua các hình thức hợp tác, tương trợ từ thấp đến cao, dần dần làm cho nông dân tự nguyện, tự giác đi vào con đường làm ăn tập thể [45, tr. Trung ương Đảng chủ trương đưa nông dân dần dần từng bước đi vào con đường làm ăn tập thể: tăng cường giáo dục đảng viên và quần chúng nông dân, hướng dẫn họ đi vào con đường hợp tác, tương trợ để thực hiện sản xuất có lãnh đạo, có tổ chức, làm cho thu nhập của nông dân thêm dồi dào, đời sống họ thêm cải thiện, góp phần làm cho kinh tế nước nhà ngày càng phồn thịnh…Củng cố và phát triển rộng rãi và có lãnh đạo những hình thức đổi công từng việc, từng vụ. Ở những nơi đã có cơ sở đổi công thì phổ biến hình thức đổi công thường xuyên một cách có kế hoạch. Giữ vững ba nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản trị dân chủ.

Nơi nào có kinh nghiệm đổi công, có cơ sở đổi công thường xuyên và có cốt cán lãnh đạo thì làm thí nghiệm một số hợp tác xã sản xuất. Trong cuộc vận động hợp tác tương trợ phải chống hai khuynh hướng sai lầm là hoặc cưỡng bách mệnh lệnh, hoặc buông trôi, không lãnh đạo [45, tr. Thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã thí điểm, đến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cuối năm 1955, đã có 6 hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng thí điểm ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa; năm 1956 có 26 hợp tác xã thí điểm [63, tr. Tháng 3 năm 1957, Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 12 đã đề ra nhiệm vụ chính của các ngành trong năm 1957, trong đó đặt ra nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp trong năm 1957: đẩy mạnh sản xuất lương thực là chủ yếu, hết sức phát triển cây công nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, phát triển các nghề phụ ở nông thôn, khôi phục ruộng hoang, hoàn thành và xây dựng thêm các công trình thủy nông, củng cố đê ở những nơi xung yếu…Ra sức khôi phục và phát triển tổ đổi công, nhất là tổ đổi công thường xuyên…đối với hợp tác sản xuất nông nghiệp, phải lấy củng cố làm chính, đảm bảo thu hoạch của xã viên cao hơn thu hoạch của nông dân, cá thể [47, tr.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, việc xây dựng thí điểm các hợp tác xã vẫn được tiến hành một cách tích cực, đến tháng 10 năm 1957 có 42 hợp tác xã thí điểm. Tuy nhiên, ngay từ bước đầu thí điểm này đã có một số hợp tác xã tan vỡ [63, tr10]. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và ngay trong việc tổ chức đổi công, hợp tác cũng mắc sai lầm. Trước tình hình đó, muốn ổn định tình hình để chuyển lên làm nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn thì trước mắt phải gấp rút tập trung lực lượng sửa sai.

Đảng đã công khai nhận sai lầm và kiên quyết sửa sai. Đến cuối năm 1957 khi công tác sửa sai đã căn bản hoàn thành, tháng 10 năm 1957, Hội nghị sơ kết công tác thí điểm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đã được tổ chức. Hội nghị sơ kết đã đề ra chủ trương củng cố hợp tác xã thí điểm trên các mặt: quản lý lao động, quản lý sản xuất, quản lý tài vụ. Hội nghị đặt ra mục tiêu năm 1958 xây dựng 234 hợp tác xã; năm 1960 hoàn thành xây dựng tổ đổi công, đưa 20% hộ nông dân vào hợp tác xã bậc thấp và thí điểm xây dựng hợp tác xã bậc cao [63, tr.

Mặc dù chủ trương của Đảng lúc này là làm thí điểm từ thấp đến cao, nhưng trong thực tế phong trào hợp tác hóa nông nghiệp lại diễn ra ra với tốc độ rất cao. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 12 năm 1957, sau khi hoàn thành kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế và cải cách ruộng đất, Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng, xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là: Củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc nước ta đang tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội là không ngừng khuyến khích phát triển sản xuất, đảm bảo đời sống người lao động ngày càng khá hơn, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.

Như vậy, có thể thấy đến trước Hội nghị 14 (11/1958), tư duy của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là một con đường cách mạng lâu dài, phải tiến hành từng bước một. Việc xây dựng nền kinh tế tập thể phải được tiến hành dần dần từng bước không thể nóng vội. Trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, vẫn đảm bảo tồn tại các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản và cá thể bên cạnh kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ