Chủ trương của Đảng về vận động và tập hợp tầng lớp trí thức trong giai đoạn 1930-1954

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh chủ trương của đảng về vận động tập hợp tầng lớp trí thức thời kỳ 1930 1954, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG, TẬP HỢP TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG THỜI KỲ 1930-1945

1.1. Khái quát về trí thức Việt Nam trước năm 1930

1.2. Trí thức, sĩ phu yêu nước và xu hướng cách mạng tư sản ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX

1.3. Trí thức Việt Nam trong những năm 20 (XX) với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

1.4. Chủ trương của Đảng về trí thức giai đoạn 1930-1939

1.5. Hoàn cảnh và yêu cầu của cách mạng Việt Nam

1.6. Chủ trương vận động, tập hợp trí thức của Đảng và những đóng góp quan trọng của trí thức đối với cách mạng

1.7. Chủ trương của Đảng về trí thức giai đoạn 1939-1945

1.8. Đặc điểm, tình hình mới của cách mạng và yêu cầu vận động, tập hợp trí thức

1.9. Chủ trương vận động, tập hợp trí thức của Đảng và sự tham gia của trí thức vào phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc

1.10. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG, TẬP HỢP TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG THỜI KỲ 1945 - 1954

2.1. Chủ trương vận động, tập hợp trí thức của Đảng trong giai đoạn củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)

2.2. Hoàn cảnh nước ta sau Cách mạng tháng Tám 1945 và yêu cầu đối với chủ trương trí thức vận của Đảng

2.3. Chủ trương và quá trình vận động, tập hợp trí thức của Đảng giai đoạn 1945-1946

2.4. Chủ trương của Đảng với trí thức trong giai đoạn toàn quốc kháng chiến (1946-1954)

2.5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ

2.6. Chủ trương và sự chỉ đạo vận động, tập hợp trí thức của Đảng

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.1. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng quan về chủ trương của Đảng về trí thức giai đoạn 1930 1954

Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tập hợp trí thức trong giai đoạn 1930-1954 là một phần quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước và sự hình thành các chính sách nhằm thu hút trí thức tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc. Đảng đã nhận thức rõ vai trò của trí thức trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ đó đưa ra những chủ trương phù hợp để tập hợp lực lượng này.

1.1. Vai trò của trí thức trong cách mạng Việt Nam

Trí thức Việt Nam đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng, từ việc tổ chức phong trào yêu nước đến việc truyền bá tư tưởng cách mạng. Họ là những người có ảnh hưởng lớn trong xã hội, góp phần nâng cao nhận thức và tinh thần yêu nước trong quần chúng.

1.2. Những thách thức đối với trí thức trong giai đoạn này

Trong bối cảnh thực dân Pháp đô hộ, trí thức Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức, từ việc bị đàn áp đến việc thiếu cơ hội phát triển. Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh của họ trong phong trào cách mạng.

II. Phương pháp tập hợp trí thức của Đảng giai đoạn 1930 1945

Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để tập hợp trí thức, từ việc xây dựng các tổ chức chính trị đến việc phát động các phong trào yêu nước. Những phương pháp này không chỉ giúp thu hút trí thức mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho họ tham gia vào các hoạt động cách mạng.

2.1. Xây dựng các tổ chức chính trị

Đảng đã thành lập nhiều tổ chức chính trị nhằm thu hút trí thức, như Mặt trận Việt Minh. Những tổ chức này không chỉ là nơi tập hợp lực lượng mà còn là diễn đàn để trí thức thể hiện quan điểm và đóng góp ý kiến cho cách mạng.

2.2. Phát động phong trào yêu nước

Phong trào yêu nước được phát động mạnh mẽ trong giai đoạn này, với sự tham gia tích cực của trí thức. Họ đã tổ chức nhiều hoạt động, từ biểu tình đến viết báo, nhằm kêu gọi quần chúng tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập.

III. Kết quả của chủ trương tập hợp trí thức giai đoạn 1945 1954

Chủ trương tập hợp trí thức của Đảng trong giai đoạn 1945-1954 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Sự tham gia của trí thức không chỉ giúp nâng cao chất lượng của phong trào cách mạng mà còn tạo ra những đóng góp thiết thực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

3.1. Đóng góp của trí thức trong Cách mạng tháng Tám

Trí thức đã đóng góp quan trọng vào thành công của Cách mạng tháng Tám 1945, từ việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền đến việc tham gia trực tiếp vào các cuộc đấu tranh giành chính quyền.

3.2. Vai trò của trí thức trong kháng chiến chống Pháp

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, trí thức tiếp tục phát huy vai trò của mình, tham gia vào các hoạt động xây dựng chính quyền cách mạng và bảo vệ Tổ quốc. Họ đã trở thành những nhân tố quan trọng trong việc củng cố và phát triển lực lượng cách mạng.

IV. Những bài học kinh nghiệm từ chủ trương tập hợp trí thức

Chủ trương tập hợp trí thức của Đảng trong giai đoạn 1930-1954 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Những kinh nghiệm này không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà còn có thể áp dụng cho các giai đoạn phát triển sau này.

4.1. Tầm quan trọng của việc thu hút trí thức

Việc thu hút trí thức vào các hoạt động cách mạng là rất cần thiết, bởi họ có khả năng tư duy, sáng tạo và có ảnh hưởng lớn đến quần chúng. Đảng cần có những chính sách phù hợp để khuyến khích sự tham gia của họ.

4.2. Cần tạo môi trường thuận lợi cho trí thức

Để trí thức có thể phát huy hết khả năng của mình, cần tạo ra một môi trường thuận lợi, bao gồm việc đảm bảo tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và các cơ hội phát triển nghề nghiệp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chủ trương tập hợp trí thức

Chủ trương tập hợp trí thức của Đảng trong giai đoạn 1930-1954 đã chứng minh được tầm quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng. Trong tương lai, việc tiếp tục phát huy vai trò của trí thức sẽ là một yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước.

5.1. Tầm nhìn cho sự phát triển trí thức trong thời kỳ mới

Trong bối cảnh hiện nay, việc phát triển đội ngũ trí thức cần được chú trọng hơn bao giờ hết. Đảng cần có những chính sách cụ thể để thu hút và phát huy sức mạnh của trí thức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

5.2. Định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần đi sâu vào việc phân tích các chính sách cụ thể của Đảng đối với trí thức, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc phát triển trí thức trong bối cảnh hiện đại.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG, TẬP HỢP TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG THỜI KỲ 1930-1945 1. Khái quát về trí thức Việt Nam trước năm 1930 1. Trí thức, sĩ phu yêu nước và xu hướng cách mạng tư sản ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX Vào đầu thế kỷ XX, các trào lưu tư tưởng mới có tính chất tư sản từ phương Tây, qua Nhật Bản, Trung Quốc ồ ạt tràn vào Việt Nam. Do tác động của những luồng tư tưởng mới đó, cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam bắt đầu chuyển sang khuynh hướng tư sản với hai xu hướng là bạo động và cải cách.

Những người đứng đầu của phong trào này là các sĩ phu, trí thức yêu nước tiến bộ. Sở dĩ những trí thức Nho học trở thành lực lượng tổ chức và lãnh đạo phong trào dân tộc vào thời kỳ này là vì ảnh hưởng của họ trong quần chúng còn sâu rộng, trong khi đó, bộ phận trí thức tân học đã ra đời, nhưng còn nhỏ bé về số lượng và chưa có uy tín trong nhân dân. Đứng đầu cho khuynh hướng bạo động là Phan Bội Châu với hai tổ chức Duy Tân và Việt Nam Quang phục hội. Thành phần của hai tổ chức này chủ yếu gồm các sĩ phu yêu nước như giải nguyên Phan Bội Châu, các cử nhân Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân, các tú tài Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên.

Mục đích của hai tổ chức này là đánh đuổi thực dân Pháp để khôi phục nền độc lập dân tộc. Sau khi ra đời, Hội Duy Tân đã phát động phong trào Đông Du sôi nổi trong toàn quốc, tập hợp hàng trăm thanh thiếu niên Việt Nam sang du học ở Nhật nhằm chuẩn bị lực lượng cho công cuộc giải phóng đất nước [39; tr. Phong trào Đông Du bắt đầu phát triển mạnh trong cả nước từ năm 1905. Trong 3 năm (1905-1908), phong trào đã thu hút, tập hợp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được gần 200 thanh niên và sĩ phu sang Nhật học tập [43; tr.

Hầu hết số học sinh này là thanh niên Nho học và các sĩ phu. Song song với phong trào bạo động là những hoạt động đấu tranh cũng rất sôi nổi của một bộ phận sĩ phu khác với chủ trương “nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí”, bằng con đường mở mang công thương nghiệp và tiến hành cải cách xã hội. Khuynh hướng này tồn tại với hai trung tâm là các trường Đông kinh Nghĩa thục ở ngoài Bắc và phong trào Duy Tân ở miền Trung. Đông kinh Nghĩa thục đã đi đầu và có những thành tựu lớn trong sáng tác văn học phục vụ cuộc đấu tranh của quần chúng.

Hầu hết học sinh trong trường là con em các nhà nho, gia đình quan lại, hoặc các nhà tư sản, địa chủ giàu có. Còn các giáo viên đại đa số là cử nhân, tú tài, chưa có quan tước gì lớn, cao nhất cũng đến chức Huấn đạo như Nguyễn Quyền. Những người sáng lập ra trường như cử nhân Lương Văn Can, Án sát từ chức Nghiêm Xuân Quảng, nhà giáo Nguyễn Văn Đức đều là những người có học thức. Lúc đầu, thực dân Pháp phần nào có ngộ nhận về tính chất của Đông kinh Nghĩa thục, bởi cái vỏ bọc công khai, hợp pháp của nó.

Nhưng rồi với phạm vi hoạt động ngày càng lan rộng, ảnh hưởng trong nhân dân ngày càng lớn, thực tế phong trào đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, yêu nước. Đông kinh Nghĩa thục đã trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp ở Việt Nam. Phong trào Duy Tân gần như xuất hiện đồng thời với phong trào cải cách giáo dục ở miền Bắc. Bên cạnh những hoạt động kinh tế, các sĩ phu còn mở lớp dạy học theo những nội dung và phương pháp mới.

Phong trào Duy Tân lúc đầu chỉ diễn ra trong các nhà trường, sau dần lan về nông thôn và cuối cùng bùng nổ thành phong trào đấu tranh chống thuế quyết liệt của quần chúng nông dân, khiến cho thực dân Pháp và bè lũ tay sai vô cùng hoảng sợ. Rõ rang, các sĩ phu yêu nước không chỉ là lực lượng nhạy cảm nhất về chính trị mà còn là bộ phận đi đầu, đóng vai trò tổ chức và lãnh đạo phong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhưng do hạn chế về nhận thức giai cấp và thời đại mà tất cả các phong trào cuối cùng đều thất bại. Mặc dù vậy, nó đã để lại cho thế hệ sau những bài học hết sức thiết thực.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác-Lênin, trí thức Việt Nam bắt đầu diễn ra sự phân hóa. Nhưng trong thời gian đầu, lập trường giai cấp của mỗi nhóm cũng khác nhau và không rõ ràng. Với tinh thần yêu nước và vốn văn hóa nhất định, một bộ phận trí thức tiên tiến đã trở thành người tổ chức và lôi cuốn quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thông qua nhiều hoạt động phong phú và thiết thực. Trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng, trí thức đã sử dụng báo chí làm công cụ để thể hiện tinh thần yêu nước của mình.

Vào những năm 1923-1925, ở Nam Kỳ bắt đầu xuất hiện những tờ báo có xu hướng CNXH như tờ Chuông rè của Nguyễn An Ninh, Người nhà quê của Nguyễn Khánh Toàn, An Nam của Phan Văn Trường. Trên các tờ báo đó đã công bố những bài viết tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân, mà hơn nữa còn đăng các bài mang tính chất mác-xít, các tác phẩm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhiều bài viết của báo Nhân đạo (L’Humanité), cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, cũng như các báo Người cùng khổ (Le Paria) và các báo chí tiến bộ khác ở Pa-ri lúc đó cũng được giới thiệu trên các tờ báo này. Điều đó đã góp phần giác ngộ tư tưởng yêu nước và ý thức dân tộc, truyền bá nền văn hóa mới và tư tưởng cách mạng trong quần chúng nhân dân, nhằm chống lại chế độ thực dân và phong kiến, trực tiếp đòi tự do ngôn luận và xuất bản.

Bên cạnh việc viết và xuất bản báo, trí thức Việt Nam còn cho công bố các tác phẩm văn học và sử học để cổ động lòng yêu nước. Tại các đô thị, một số nhóm trí thức trẻ đã tổ chức biên soạn và xuất bản các tài liệu chứa đựng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nội dung yêu nước nói trên. Những cơ sở thư xã lớn nhất lúc bấy giờ là Quan Hải tùng thư ở Huế, Giác Quần thư xã và Nam Đồng thư xã ở Hà Nội, Cường học thư xã và Tân Việt thư xã ở Sài Gòn, … đã cho in nhiều sách của các tác giả Việt Nam và cả các sách dịch của nước ngoài. Nhờ những hoạt động đó mà uy tín của tầng lớp trí thức được nâng lên, góp phần tập hợp, lôi cuốn quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.

Chịu tác động tư tưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và trên nền tảng tư tưởng yêu nước, từ đầu những năm 20 (XX), trong toàn quốc đã dấy lên phong trào đấu tranh yêu nước sôi nổi của các tầng lớp nhân dân, mà đỉnh cao là cao trào đòi tự do dân chủ vào những năm 1925-1926. Các cuộc đấu tranh yêu nước thời kỳ này tập trung vào việc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, tổ chức đám tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà báo Nguyễn An Ninh và cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu, lãnh tụ của Đảng Lập hiến. Đóng vai trò tổ chức các hoạt động này chủ yếu là các hội viên của các đảng tiểu tư sản yêu nước: Hội phục Việt, Đảng Thanh niên, với các yếu nhân như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Mộng Bạch (ở miền Bắc và miền Trung), Trần Huy Liệu, Bùi Công Trừng, Nguyễn An Ninh (ở miền Nam). Thành phần xã hội của các tổ chức này chủ yếu là trí thức trẻ, nhà nho, giáo viên, sinh viên, học sinh, những người làm nghề tự do.

Lực lượng tham gia tích cực và nhiệt tình nhất trong các hoạt động yêu nước này là học sinh và sinh viên. Đặng Thai Mai, một hội viên của Hội Phục Việt đã kể lại rằng: “Trong cuộc vận động quần chúng hồi này, sinh viên Hà Nội đã đóng một vai trò khá tích cực. Anh em đã chia nhau viết truyền đơn, viết báo, tổ chức các buổi họp quần chúng, nói chuyện với đồng bào” [38; tr. Chính quyền thực dân Pháp, tất nhiên đã tìm đủ mọi biện pháp để đình chỉ các hoạt động đấu tranh.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 3-1926, lại dấy lên phong trào tổ chức tang lễ Phan Châu Trinh ở nhiều nơi. Tại Sài Gòn, nơi trực tiếp tiến hành tang lễ, sinh viên không chỉ tích cực tổ chức, mà còn thực hiện các biện pháp để giữ gìn trật tự cho những người tham gia tang lễ. Trong các trường ở Hà Nội và các thành phố, thị xã, học sinh và sinh viên cũng tổ chức các buổi truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Mặc dù chính quyền thực dân ra sức ngăn cản tổ chức truy điệu, bắt bớ học sinh, sinh viên, nhưng không dập tắt được phong trào, mà ngược lại, chỉ làm tăng thêm ngọn lửa yêu nước và giúp cho các nhà cách mạng có cơ hội tuyên truyền các tư tưởng cách mạng.

Thực tế đã chứng minh rằng, các nhóm chính trị của trí thức yêu nước trong Đảng Thanh niên, Hội Phục Việt vừa là hệ quả của phong trào dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vừa là lực lượng tổ chức và động lực thúc đẩy các cuộc đấu tranh yêu nước của quần chúng nhân dân phát triển. Nói cách khác, các nhóm chính trị đã trở thành hạt nhân của phong trào dân tộc trong những năm 1920. Tuy nhiên, những hạn chế về mặt giai cấp đã không cho phép các tổ chức này tìm thấy con đường và các biện pháp hữu hiệu để giành thắng lợi cuối cùng. Mặc dù vậy, hoạt động yêu nước của nhóm trí thức tiểu tư sản này đã góp phần phát triển ý thức dân tộc và chủ nghĩa yêu nước trong nhân dân, tạo điều kiện truyền bá tư tưởng tiến bộ và cách mạng trong quần chúng, tạo điều kiện tiền đề cho sự xuất hiện các tổ chức cách mạng.

Đó là cống hiến và công lao của bộ phận trí thức tiến bộ và các tổ chức chính trị này đối với cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam trước năm 1930.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ