Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG, TẬP HỢP TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG THỜI KỲ 1930-1945 1. Khái quát về trí thức Việt Nam trước năm 1930 1. Trí thức, sĩ phu yêu nước và xu hướng cách mạng tư sản ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX Vào đầu thế kỷ XX, các trào lưu tư tưởng mới có tính chất tư sản từ phương Tây, qua Nhật Bản, Trung Quốc ồ ạt tràn vào Việt Nam. Do tác động của những luồng tư tưởng mới đó, cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam bắt đầu chuyển sang khuynh hướng tư sản với hai xu hướng là bạo động và cải cách.
Những người đứng đầu của phong trào này là các sĩ phu, trí thức yêu nước tiến bộ. Sở dĩ những trí thức Nho học trở thành lực lượng tổ chức và lãnh đạo phong trào dân tộc vào thời kỳ này là vì ảnh hưởng của họ trong quần chúng còn sâu rộng, trong khi đó, bộ phận trí thức tân học đã ra đời, nhưng còn nhỏ bé về số lượng và chưa có uy tín trong nhân dân. Đứng đầu cho khuynh hướng bạo động là Phan Bội Châu với hai tổ chức Duy Tân và Việt Nam Quang phục hội. Thành phần của hai tổ chức này chủ yếu gồm các sĩ phu yêu nước như giải nguyên Phan Bội Châu, các cử nhân Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân, các tú tài Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên.
Mục đích của hai tổ chức này là đánh đuổi thực dân Pháp để khôi phục nền độc lập dân tộc. Sau khi ra đời, Hội Duy Tân đã phát động phong trào Đông Du sôi nổi trong toàn quốc, tập hợp hàng trăm thanh thiếu niên Việt Nam sang du học ở Nhật nhằm chuẩn bị lực lượng cho công cuộc giải phóng đất nước [39; tr. Phong trào Đông Du bắt đầu phát triển mạnh trong cả nước từ năm 1905. Trong 3 năm (1905-1908), phong trào đã thu hút, tập hợp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được gần 200 thanh niên và sĩ phu sang Nhật học tập [43; tr.
Hầu hết số học sinh này là thanh niên Nho học và các sĩ phu. Song song với phong trào bạo động là những hoạt động đấu tranh cũng rất sôi nổi của một bộ phận sĩ phu khác với chủ trương “nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí”, bằng con đường mở mang công thương nghiệp và tiến hành cải cách xã hội. Khuynh hướng này tồn tại với hai trung tâm là các trường Đông kinh Nghĩa thục ở ngoài Bắc và phong trào Duy Tân ở miền Trung. Đông kinh Nghĩa thục đã đi đầu và có những thành tựu lớn trong sáng tác văn học phục vụ cuộc đấu tranh của quần chúng.
Hầu hết học sinh trong trường là con em các nhà nho, gia đình quan lại, hoặc các nhà tư sản, địa chủ giàu có. Còn các giáo viên đại đa số là cử nhân, tú tài, chưa có quan tước gì lớn, cao nhất cũng đến chức Huấn đạo như Nguyễn Quyền. Những người sáng lập ra trường như cử nhân Lương Văn Can, Án sát từ chức Nghiêm Xuân Quảng, nhà giáo Nguyễn Văn Đức đều là những người có học thức. Lúc đầu, thực dân Pháp phần nào có ngộ nhận về tính chất của Đông kinh Nghĩa thục, bởi cái vỏ bọc công khai, hợp pháp của nó.
Nhưng rồi với phạm vi hoạt động ngày càng lan rộng, ảnh hưởng trong nhân dân ngày càng lớn, thực tế phong trào đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, yêu nước. Đông kinh Nghĩa thục đã trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp ở Việt Nam. Phong trào Duy Tân gần như xuất hiện đồng thời với phong trào cải cách giáo dục ở miền Bắc. Bên cạnh những hoạt động kinh tế, các sĩ phu còn mở lớp dạy học theo những nội dung và phương pháp mới.
Phong trào Duy Tân lúc đầu chỉ diễn ra trong các nhà trường, sau dần lan về nông thôn và cuối cùng bùng nổ thành phong trào đấu tranh chống thuế quyết liệt của quần chúng nông dân, khiến cho thực dân Pháp và bè lũ tay sai vô cùng hoảng sợ. Rõ rang, các sĩ phu yêu nước không chỉ là lực lượng nhạy cảm nhất về chính trị mà còn là bộ phận đi đầu, đóng vai trò tổ chức và lãnh đạo phong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhưng do hạn chế về nhận thức giai cấp và thời đại mà tất cả các phong trào cuối cùng đều thất bại. Mặc dù vậy, nó đã để lại cho thế hệ sau những bài học hết sức thiết thực.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác-Lênin, trí thức Việt Nam bắt đầu diễn ra sự phân hóa. Nhưng trong thời gian đầu, lập trường giai cấp của mỗi nhóm cũng khác nhau và không rõ ràng. Với tinh thần yêu nước và vốn văn hóa nhất định, một bộ phận trí thức tiên tiến đã trở thành người tổ chức và lôi cuốn quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thông qua nhiều hoạt động phong phú và thiết thực. Trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng, trí thức đã sử dụng báo chí làm công cụ để thể hiện tinh thần yêu nước của mình.
Vào những năm 1923-1925, ở Nam Kỳ bắt đầu xuất hiện những tờ báo có xu hướng CNXH như tờ Chuông rè của Nguyễn An Ninh, Người nhà quê của Nguyễn Khánh Toàn, An Nam của Phan Văn Trường. Trên các tờ báo đó đã công bố những bài viết tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân, mà hơn nữa còn đăng các bài mang tính chất mác-xít, các tác phẩm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhiều bài viết của báo Nhân đạo (L’Humanité), cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, cũng như các báo Người cùng khổ (Le Paria) và các báo chí tiến bộ khác ở Pa-ri lúc đó cũng được giới thiệu trên các tờ báo này. Điều đó đã góp phần giác ngộ tư tưởng yêu nước và ý thức dân tộc, truyền bá nền văn hóa mới và tư tưởng cách mạng trong quần chúng nhân dân, nhằm chống lại chế độ thực dân và phong kiến, trực tiếp đòi tự do ngôn luận và xuất bản.
Bên cạnh việc viết và xuất bản báo, trí thức Việt Nam còn cho công bố các tác phẩm văn học và sử học để cổ động lòng yêu nước. Tại các đô thị, một số nhóm trí thức trẻ đã tổ chức biên soạn và xuất bản các tài liệu chứa đựng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nội dung yêu nước nói trên. Những cơ sở thư xã lớn nhất lúc bấy giờ là Quan Hải tùng thư ở Huế, Giác Quần thư xã và Nam Đồng thư xã ở Hà Nội, Cường học thư xã và Tân Việt thư xã ở Sài Gòn, … đã cho in nhiều sách của các tác giả Việt Nam và cả các sách dịch của nước ngoài. Nhờ những hoạt động đó mà uy tín của tầng lớp trí thức được nâng lên, góp phần tập hợp, lôi cuốn quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.
Chịu tác động tư tưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và trên nền tảng tư tưởng yêu nước, từ đầu những năm 20 (XX), trong toàn quốc đã dấy lên phong trào đấu tranh yêu nước sôi nổi của các tầng lớp nhân dân, mà đỉnh cao là cao trào đòi tự do dân chủ vào những năm 1925-1926. Các cuộc đấu tranh yêu nước thời kỳ này tập trung vào việc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, tổ chức đám tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà báo Nguyễn An Ninh và cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu, lãnh tụ của Đảng Lập hiến. Đóng vai trò tổ chức các hoạt động này chủ yếu là các hội viên của các đảng tiểu tư sản yêu nước: Hội phục Việt, Đảng Thanh niên, với các yếu nhân như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Mộng Bạch (ở miền Bắc và miền Trung), Trần Huy Liệu, Bùi Công Trừng, Nguyễn An Ninh (ở miền Nam). Thành phần xã hội của các tổ chức này chủ yếu là trí thức trẻ, nhà nho, giáo viên, sinh viên, học sinh, những người làm nghề tự do.
Lực lượng tham gia tích cực và nhiệt tình nhất trong các hoạt động yêu nước này là học sinh và sinh viên. Đặng Thai Mai, một hội viên của Hội Phục Việt đã kể lại rằng: “Trong cuộc vận động quần chúng hồi này, sinh viên Hà Nội đã đóng một vai trò khá tích cực. Anh em đã chia nhau viết truyền đơn, viết báo, tổ chức các buổi họp quần chúng, nói chuyện với đồng bào” [38; tr. Chính quyền thực dân Pháp, tất nhiên đã tìm đủ mọi biện pháp để đình chỉ các hoạt động đấu tranh.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 3-1926, lại dấy lên phong trào tổ chức tang lễ Phan Châu Trinh ở nhiều nơi. Tại Sài Gòn, nơi trực tiếp tiến hành tang lễ, sinh viên không chỉ tích cực tổ chức, mà còn thực hiện các biện pháp để giữ gìn trật tự cho những người tham gia tang lễ. Trong các trường ở Hà Nội và các thành phố, thị xã, học sinh và sinh viên cũng tổ chức các buổi truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Mặc dù chính quyền thực dân ra sức ngăn cản tổ chức truy điệu, bắt bớ học sinh, sinh viên, nhưng không dập tắt được phong trào, mà ngược lại, chỉ làm tăng thêm ngọn lửa yêu nước và giúp cho các nhà cách mạng có cơ hội tuyên truyền các tư tưởng cách mạng.
Thực tế đã chứng minh rằng, các nhóm chính trị của trí thức yêu nước trong Đảng Thanh niên, Hội Phục Việt vừa là hệ quả của phong trào dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vừa là lực lượng tổ chức và động lực thúc đẩy các cuộc đấu tranh yêu nước của quần chúng nhân dân phát triển. Nói cách khác, các nhóm chính trị đã trở thành hạt nhân của phong trào dân tộc trong những năm 1920. Tuy nhiên, những hạn chế về mặt giai cấp đã không cho phép các tổ chức này tìm thấy con đường và các biện pháp hữu hiệu để giành thắng lợi cuối cùng. Mặc dù vậy, hoạt động yêu nước của nhóm trí thức tiểu tư sản này đã góp phần phát triển ý thức dân tộc và chủ nghĩa yêu nước trong nhân dân, tạo điều kiện truyền bá tư tưởng tiến bộ và cách mạng trong quần chúng, tạo điều kiện tiền đề cho sự xuất hiện các tổ chức cách mạng.
Đó là cống hiến và công lao của bộ phận trí thức tiến bộ và các tổ chức chính trị này đối với cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam trước năm 1930.