Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Chu thị như khảo sát chi phí ngoài y tế và chi

Nghiên cứu chi phí ngoài y tế và gián tiếp của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bắc Ninh năm 2017. Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ Hà Nội 2018.

Chuyên ngành

Dược Sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Tầm quan trọng của Chu Thị Như Khảo sát Chi phí Ngoài Y tế

Chu Thị Như khảo sát chi phí ngoài y tế là một nghiên cứu quan trọng thuộc lĩnh vực phân tích chi phí bệnh tật (Cost of Illness - COI). Đây là khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Chu Thị Như tại Trường Đại học Dược Hà Nội, tập trung vào việc khảo sát chi phí gián tiếp và chi phí ngoài y tế của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bắc Ninh năm 2017. Nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực trong việc đánh giá gánh nặng kinh tế của bệnh mãn tính, từ đó giúp cơ quan quản lý y tế xây dựng các chính sách hỗ trợ bệnh nhân hiệu quả. Chi phí ngoài y tế bao gồm các chi phí trực tiếp không liên quan đến điều trị y tế như chi phí đi lại, ăn uống, ở trọ và các chi phí gián tiếp như mất thời gian làm việc, giảm năng suất lao động.

1.1. Định nghĩa Chi phí Ngoài Y tế

Chi phí ngoài y tế là những khoản chi tiêu mà bệnh nhân phải bỏ ra ngoài chi phí khám chữa bệnh trực tiếp. Bao gồm chi phí đi lại để tới cơ sở khám chữa bệnh, chi phí ăn uống, chi phí ở trọ, và chi phí cho người đi cùng. Trong khóa luận Chu Thị Như, các chi phí này được phân tích chi tiết để hiểu rõ gánh nặng tài chính toàn diện mà bệnh nhân đái tháo đường typ 2 phải chịu đựng.

1.2. Ý nghĩa của Phân tích Chi phí Gián tiếp

Chi phí gián tiếp bao gồm mất thời gian lao động, giảm năng suất làm việc và chi phí chăm sóc của người nhà. Nghiên cứu của Chu Thị Như cho thấy những chi phí này thường bị bỏ qua nhưng lại có tác động lớn đến đời sống bệnh nhân. Việc khảo sát chi phí gián tiếp giúp phát hiện gánh nặng kinh tế thực sự, hỗ trợ xây dựng chương trình bảo hiểm y tế và chính sách hỗ trợ bệnh nhân mãn tính.

II. Phương pháp Nghiên cứu trong Khóa luận Chu Thị Như

Chu Thị Như khảo sát chi phí ngoài y tế sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu từ các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại các cơ sở y tế Bắc Ninh. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi chuẩn hóa, nhằm xác định chi phí trực tiếp ngoài y tếchi phí gián tiếp trong từng đợt khám bệnh. Mẫu nghiên cứu bao gồm bệnh nhân có bệnh sử đái tháo đường, đã điều trị ít nhất 6 tháng. Phương pháp phân tích thống kê kê được áp dụng để tính toán chi phí trung bình theo tháng, quý và năm, cũng như xác định mối liên hệ giữa các yếu tố xã hội nhân khẩu học và chi phí.

2.1. Đối tượng và Địa điểm Nghiên cứu

Nghiên cứu của Chu Thị Như được thực hiện tại các cơ sở y tế trên địa bàn Bắc Ninh năm 2017, bao gồm Trung tâm y tế dự phòng và Bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, đã được chẩn đoán bệnh ít nhất 6 tháng trước. Bệnh nhân phải có khả năng trả lời các câu hỏi về chi phí và sử dụng dịch vụ y tế định kỳ.

2.2. Công cụ Thu thập và Xử lý Dữ liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế để thu thập thông tin chi tiết về chi phí đi lại, ăn uống, ở trọ và các chi phí phụ trợ khác. Chi phí gián tiếp được xác định thông qua tính toán mất thời gian làm việc và giảm năng suất. Dữ liệu được nhập vào phần mềm và phân tích bằng các phương pháp thống kê để tính chi phí trung bình theo tháng và năm.

III. Kết quả Chính của Chu Thị Như Khảo sát Chi phí

Kết quả khảo sát chi phí ngoài y tế của Chu Thị Như cho thấy chi phí trực tiếp ngoài y tế trung bình hàng tháng của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 bao gồm chi phí đi lại chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo là chi phí ăn uống và ở trọ. Chi phí gián tiếp liên quan đến mất thời gian làm việc và giảm năng suất cũng đáng kể, đặc biệt ở bệnh nhân độc thân hoặc có gia cảnh phức tạp. Mối liên hệ giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và chi phí ngoài y tế được phân tích chi tiết. Chi phí ngoài y tế và chi phí gián tiếp trung bình năm của bệnh nhân có sự khác biệt đáng kể tùy theo loại cơ sở khám chữa bệnh và tình trạng lâm sàng.

3.1. Chi phí Trực tiếp Ngoài Y tế

Chi phí đi lại chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi phí ngoài y tế, dao động từ 50,000 - 150,000 đồng mỗi lần khám. Chi phí ăn uống khoảng 30,000 - 80,000 đồng, chi phí ở trọ cho những bệnh nhân từ xa khoảng 100,000 - 300,000 đồng tùy theo cơ sở y tế. Những chi phí khác như mua thuốc bổ sung, kiểm tra ngoài cơ sở khám cũng được ghi nhận.

3.2. Chi phí Gián tiếp và Tác động Kinh tế

Chi phí gián tiếp liên quan đến mất ngày làm việc, trung bình 2-4 ngày mỗi tháng, tương ứng với mức lương trung bình của bệnh nhân. Giảm năng suất lao động do bệnh tật cũng được tính vào, ước tính từ 10-30% năng suất bình thường. Những chi phí gián tiếp này thường lớn hơn chi phí trực tiếp ngoài y tế, cho thấy gánh nặng kinh tế thực sự của bệnh mãn tính.

IV. Kết luận và Ứng dụng Thực tiễn của Nghiên cứu Chu Thị Như

Chu Thị Như khảo sát chi phí ngoài y tế cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để hiểu rõ gánh nặng kinh tế toàn diện của bệnh đái tháo đường typ 2. Kết quả cho thấy cần phải chú ý đến chi phí gián tiếp trong các chính sách hỗ trợ bệnh nhân mãn tính. Những chi phí ngoài y tế đáng kể này có thể là rào cản khiến bệnh nhân không tuân thủ điều trị, dẫn đến biến chứng nặng hơn. Nghiên cứu đề xuất cần tăng cường bảo hiểm y tế bao phủ chi phí ngoài y tế, phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh gần nhân dân, và hỗ trợ kinh tế cho bệnh nhân mãn tính. Kết quả khảo sát chi phí của Chu Thị Như có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chính sách y tế công cộng.

4.1. Những Phát hiện Chủ yếu

Chi phí ngoài y tếchi phí gián tiếp của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 rất đáng kể, ước tính từ 3-5 triệu đồng/năm/bệnh nhân. Chi phí gián tiếp thường cao hơn chi phí trực tiếp ngoài y tế, nhưng ít được tính toán trong các chính sách hiện tại. Bệnh nhân có thu nhập thấp chịu gánh nặng tương đối cao hơn, dễ dàng từ bỏ điều trị.

4.2. Đề xuất và Hướng Phát triển

Cần xây dựng chương trình hỗ trợ chi phí ngoài y tế cho bệnh nhân mãn tính, đặc biệt bệnh nhân có thu nhập thấp. Phát triển mạng lưới cơ sở y tế cơ sở để giảm chi phí đi lại. Tăng cường truyền thông về điều trị và quản lý bệnh để giảm chi phí gián tiếp. Các nghiên cứu tương tự nên được tiếp tục ở các địa phương khác để có cơ sở dữ liệu toàn quốc.

21/12/2025
Chu thị như khảo sát chi phí ngoài y tế và chi phí gián tiếp của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại một số cơ sở y tế trên địa bàn bắc ninh năm 2017 khóa luận tốt nghiệp dược sĩ hà nội 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính ngày càng phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới với tốc độ phát triển rất nhanh. Theo ước tính của Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2017, cứ mười người trưởng thành sẽ có một người bị mắc ĐTĐ, điều này cũng có nghĩa hiện nay trên thế giới có khoảng 425 triệu người mắc bệnh và dự đoán đến năm 2045 số người mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới sẽ là 625 triệu người. Cũng theo IDF, Việt Nam có tới 3,53 triệu người đang chung sống với bệnh đái tháo đường. Tỉ lệ gia tăng ĐTĐ tại Việt Nam so với các nước trong khu vực và toàn cầu giai đoạn 2017-2045 là 78,5% và chi phí điều trị sẽ tăng 42% từ 2017-2045 từ 765,6 triệu USD lên 1,085 tỷ USD [24].

Đái tháo đường tạo ra gánh nặng khổng lồ cho nền kinh tế, cho bệnh nhân và toàn xã hội. Ở các nước công nghiệp phát triển chi phí cho bệnh ĐTĐ thường chiếm từ 5-10% ngân sách dành cho Y tế. Đến năm 2013, theo ước tính, chi phí trực tiếp và gián tiếp cho bệnh ĐTĐ khoảng 827 tỉ đô la Mỹ. Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế ước tính chi phí cho căn bệnh ĐTĐ đã tăng gấp 3 lần từ năm 2003 đến năm 2013.

Một nghiên cứu khác ước tính chi phí toàn cầu cho bệnh ĐTĐ hàng năm là 1,7 nghìn tỉ USD, trong đó 900 tỉ USD là của các nước phát triển, 800 tỉ USD là của các nước có thu nhập thấp và trung bình. Năm 2017, 12% chi phí cho y tế của toàn thế giới được chi cho ĐTĐ (727 tỷ USD), ước tính vào năm 2045 con số này sẽ vượt quá 776 tỷ USD [24]. Những gánh nặng khổng lồ của bệnh ĐTĐ không chỉ là do tác động của chi phí điều trị. Bên cạnh các chi phí y tế trực tiếp, các khoản chi phí gián tiếp, các khoản chi ngoài y tế cũng tạo ra hao phí rất lớn cho xã hội.

Kết quả nghiên cứu tác động kinh tế của ĐTĐ ở Mỹ năm 2012 cho thấy tổng chi phí ước tính của bệnh ĐTĐ là 245 tỷ đô la, bao gồm 176 tỷ đô la cho chi phí y tế trực tiếp và 69 tỷ đô la trong chi phí gián tiếp [8]. Từ đó, ta thấy được chi phí gián tiếp cũng là một thành phần quan trọng trong chi phí bệnh ĐTĐ. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam còn có rất ít nghiên cứu về chi phí gián tiếp và chủ yếu được tiến hành tại các thành phố lớn như đề tài của Nguyễn Hoàng Lan (thành phố Huế) [7], Nguyễn Tử Đặng Lê và cộng sự (thành phố Hồ Chí Minh) [30]. 1 Với mong muốn tìm hiểu thêm về chi phí trực tiếp ngoài y tế, chi phí gián tiếp và một số yếu tố ảnh hưởng đến chi phí này, đề tài được thực hiện với hai mục tiêu: 1.

Ước tính chi phí trực tiếp ngoài y tế và các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí trực tiếp ngoài y tế của bệnh nhân ĐTĐ typ 2 tại một số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Ước tính chi phí gián tiếp và các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí gián tiếp của bệnh nhân ĐTĐ typ 2 tại một số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Phân tích chi phí bệnh tật (Cost of illness- COI). Khái niệm Ngày này già hóa dân số và sự gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm đang tạo ra gánh nặng kinh tế to lớn đối với toàn xã hội.

Với nguồn lực hạn hẹp, các nhà hoạch định chính sách, bác sĩ và bệnh nhân luôn luôn phải cân nhắc làm sao để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý. Việc thu thập và phân tích các số liệu về chi phí bệnh tật (Cost of illness- COI) sẽ giúp ước tính tổng gánh nặng của một căn bệnh cụ thể đối với các bên liên quan, từ đó, có thể đưa ra những quyết định, chính sách phù hợp [1]. Ước tính tổng gánh nặng của một căn bệnh cụ thể đối với xã hội là xác định và đo lường tất cả các chi phí của một bệnh cụ thể bao gồm cả chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp, chi phí vô hình và đầu ra sẽ được thể hiện bằng tiền tệ. Chi phí bệnh tật (COI) là kỹ thuật đánh giá kinh tế được sử dụng trong lĩnh vực y tế.

Mục đích chính là để đo lường gánh nặng kinh tế của bệnh tật đối với xã hội [36]. Các nghiên cứu về chi phí bệnh tật sẽ đánh giá các nguồn lực được sử dụng và mất đi do một bệnh cụ thể, có thể phân tích gánh nặng y tế và kinh tế lên một tổ chức, cá nhân hay thậm chí là toàn xã hội [15], [18]. Ngoài ra, các nhiên cứu COI còn là bước nghiên cứu cơ bản phục vụ cho cho các đánh giá kinh tế y tế như phân tích hiệu quả - chi phí nhằm so sánh các can thiệp y tế [18]. Các thành phần chi phí trong nghiên cứu COI.

Theo các lí thuyết về kinh tế y tế, chi phí bệnh tật bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí vô hình. Trong đó, chi phí trực tiếp sẽ bao gồm chi phí y tế và chi phí ngoài y tế. 3 Bảng 1-1: Ví dụ về các loại chi phí liên quan đến sức khỏe Chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp Chi phí gián tiếp Chi phí trực tiếp y tế ngoài y tế Giảm năng suất lao Chăm sóc nội trú. Chi phí di chuyển.

Các dịch vụ xã hội như tư Phí khám ngoại trú. Bệnh tật, nghỉ làm. vấn, đào tạo lại. Sửa chữa tài sản bị hư Hao phí thời gian lao Chăm sóc sức khỏe tại nhà.

động của người nhà. Chi phí cho thời gian tìm Tư vấn bác sĩ chuyên khoa, kiếm thông tin về bệnh, di Tàn tật do bệnh. chuyển, chờ đợi… Dịch vụ hỗ trợ như dinh dưỡng, Chăm sóc con cái. Tử vong sớm do bệnh.

vật lí trị liệu, xe cứu thương. Phân bổ các chi phí đầu tư ban đầu, xây dựng cơ sở vật chất, chi phí thiết bị. Thuốc kê đơn và không kê đơn. Thuốc, vật tư, trang thiết bị do gia đình tự chi trả.

Dịch vụ điều trị: phẫu thuật, thủ thật, thở oxy… Chế độ ăn đặc biệt. Dịch vụ phòng ngừa, tầm soát… Phục hồi chức năng. Đào tạo giáo dục: Tập huấn tự chăm sóc cho bệnh nhân, hỗ trợ kĩ năng sống cho cộng đồng… 4 1. Chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp là gánh nặng kinh tế mà người bệnh và gia đình họ phải chi trả cho việc khám chữa bệnh (tiền thuốc, xét nghiệm, phục hồi chức năng…) và các chi phí khác như chi phí đi lại, tiền trọ, tiền thuê người chăm sóc… nói cách khác chi phí trực tiếp đại diện chi phí cơ hội của tất cả các loại tài nguyên được sử dụng để điều trị bệnh.

Đây là gánh nặng rất lớn với người bệnh và gia đình bởi đây là chi phí bắt buộc. Ước tính chi phí trực tiếp liên quan đến bệnh mạn tính cao hơn các bệnh cấp tính hoặc bệnh truyền nhiễm với điều kiện là phương pháp điều trị và phòng ngừa có hiệu quả và được sử dụng hiệu quả [5]. Trong chi phí trực tiếp lại được chia làm 2 loại: Chi phí trực tiếp y tế Chi phí trực tiếp y tế bao gồm chi phí chăm sóc bệnh nhân nội trú tại bệnh viện, chăm sóc bệnh nhân ngoại trú, cấp cứu, chăm sóc tại bệnh viện, phục hồi chức năng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thuốc theo đơn và dịch vụ y tế. Chi phí trực tiếp ngoài y tế Chi phí trực tiếp ngoài y tế đề cập đến những chi phí phát sinh của bệnh nhân và gia đình họ có liên quan trực tiếp với bệnh nhưng không phải là các chi phí y tế, chẳng hạn như chi phí vận chuyển, chi phí di chuyển và chăm sóc không chính thức khác như ăn uống, ở trọ… [33], [39].

Chi phí gián tiếp Chi phí gián tiếp bao gồm tổn thất năng suất lao động liên quan đến bệnh tật và tử vong [33]. Thiệt hại về năng suất bao gồm cả việc nghỉ làm do ốm và giảm năng suất do mắc bệnh những bệnh nhân vẫn tiếp tục làm việc (tàn phế, nghỉ hưu sớm) [20]. Chi phí gián tiếp còn bao gồm cả những sản phẩm lao động do người phục vụ người bệnh phải nghỉ việc để chăm sóc cho người bệnh hay đi khám cùng người bệnh [5]. Chi phí gián tiếp thường chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng chi phí hầu hết các nghiên cứu COI [33], [39].

Trong thực tế, chi phí gián tiếp tạo thành một phần thiệt hại không nhỏ về phúc lợi xã hội do bệnh tật [21]. Những chi phí này phần lớn do xã hội phải chi trả [5]. Chi phí vô hình Chi phí vô hình còn được gọi là gánh nặng tâm lý của người bệnh, gia đình và xã hội, bao gồm các stress, sự lo lắng của bản thân người bệnh, thân nhân và cả cộng 5 đồng về tất cả các khía cạnh có liên quan đến bệnh như tình trạng bệnh, diễn biến của bệnh, ảnh hưởng của bệnh đến công việc, đến tương lai… [5]. Các chi phí vô hình hiếm khi được định lượng trong các nghiên cứu COI do những khó khăn về đo lường và những tranh cãi liên quan.

Quan điểm nghiên cứu Bảng 1-2: Các loại chi phí bệnh tật trong các quan điểm nghiên cứu [27] Chi phí Chi phí do Chi phí Chi phí do Quan điểm Chi phí y tế do bệnh tử vong ngoài y chính phủ tật sớm tế chi trả Xã hội x x x x - Hệ thống y tế x - - - - Phần chi Phần chi phí phí bảo Công ty bảo hiểm bảo hiểm y - - - hiểm y tế tế chi trả chi trả Chi phí bảo Giảm năng Người sử dụng lao Giảm hiểm y tế chi suất do tử - - động năng suất trả vong sớm Chi phí bảo Chi phí tư Chính phủ hiểm y tế chi - - pháp hình Do bệnh trả sự Chi phí Chi phí bệnh Số tiền được Người bệnh và gia Thiệt hại Thiệt hại bệnh nhân phải tự chính phủ đình về lương về lương nhân phải chi trả hỗ trợ tự chi trả Bên cạnh các loại chi phí khác nhau, một yếu tố quan trọng khác trong nghiên cứu COI là quan điểm tiến hành nghiên cứu. Tùy thuộc vào quan điểm được chọn, ước tính chi phí sẽ thay đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ