Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm chủ thể chịu trách nhiệm hình sự Khái niệm chủ thể chịu TNHS là một khái niệm tƣơng đối phức tạp trong luật hình sự. Khái niệm này đƣợc quan niệm xuất phát từ khái niệm chủ thể của tội phạm. Trong khoa học pháp lý, khái niệm chủ thể của tội phạm đã đƣợc nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ ở các khía cạnh khác nhau.
Chủ thể của tội phạm đƣợc coi là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, là yếu tố không thể thiếu trong việc xác định tội phạm. Hiện nay trên thế giới quan niệm truyền thống và phổ biến cho rằng chủ thể của tội phạm hay nói cách khác là chủ thể chịu TNHS là cá nhân con ngƣời cụ thể. Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm đó còn quan điểm khác khi cho rằng chủ thể của tội phạm hoặc chủ thể chịu TNHS không những chỉ là cá nhân mà còn có thể là tổ chức (có thể là pháp nhân hoặc loại hình tổ chức khác không phải là pháp nhân). Quan điểm thứ hai này đang ngày càng đƣợc thừa nhận rộng rãi và đƣợc thể hiện trong BLHS của nhiều quốc gia trên thế giới.
Quan niệm cho rằng chủ thể chịu TNHS chỉ có thể là các cá nhân, con ngƣời cụ thể đã tồn tại rất lâu trong lịch sử của khoa học luật hình sự. Xuất phát điểm của quan niệm này là việc coi tội phạm theo nghĩa truyền thống chỉ có thể do con ngƣời cụ thể thực hiện. Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trƣớc tiên phải là chủ thể của tội phạm. Mà theo khoa học luật hình sự thì "Chủ thể của tội phạm là ngƣời có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể” [11, tr122].
Nhƣ vậy, cũng nhƣ chủ thể của tội phạm, một ngƣời trở thành chủ thể chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn những điều kiện nhất định. Thông thƣờng, về cơ bản là các điều kiện nhƣ là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời thực hiện hành vi đƣợc luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS. Năng lực trách nhiệm hình sự là một điều kiện của chủ thể chịu TNHS. Ngƣời cụ thể có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm và mới có thể phải chịu TNHS.
Năng lực TNHS là khả năng nhận thức (ý nghĩa xã hội của hành vi) và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đó là khả năng tâm lý của con ngƣời, không phụ thuộc vào quy định của pháp luật. Điều kiện thứ hai của chủ thể chịu TNHS là đạt độ tuổi chịu TNHS. Lý luận về tuổi chịu TNHS dựa trên sự nhận thức rằng không phải tất cả mọi ngƣời đƣợc sinh ra là đã trở thành ngƣời có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, tức là đã có năng lực TNHS.
Một ngƣời từ khi đƣợc sinh ra muốn có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi phải trải qua một quá trình sinh sống nhất định phù hợp với quá trình trƣởng thành và phát triển của trạng thái cơ thể cũng nhƣ trạng thái tâm lý. Có nghĩa là phải trải qua những năm tháng nhất định và đạt độ tuổi nhất định thì con ngƣời mới có đủ năng lực TNHS. Tuổi chịu TNHS đƣợc xác định bằng một mốc thời gian nhất định, mà cá nhân đó đạt đƣợc. Từ sự phân tích về các điều kiện của chủ thể chịu TNHS là cá nhân có thể đƣa ra định nghĩa về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự nhƣ sau: Chủ thể chịu TNHS theo là người cụ thể phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong luật hình sự khi có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS.
Diễn đạt một cách khác có thể quan niệm chủ thể chịu TNHS là ngƣời cụ thể khi thỏa mãn các điều kiện nhất định. Bên cạnh quan niệm truyền thống cho rằng chủ thể chịu TNHS là cá nhân con ngƣời cụ thể là quan điểm mở rộng phạm vi chủ thể chịu TNHS khi cho rằng chủ thể chịu TNHS không chỉ là cá nhân mà còn có thể là tổ chức. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát điểm của quan niệm này là từ việc xác định tổ chức là một thực thể độc lập, đƣợc thành lập bởi các cá nhân theo trình tự, thủ tục luật định, hoạt động của tổ chức đƣợc thực hiện bởi bộ máy vận hành là sự tập hợp của nhiều ngƣời, tổ chức chỉ theo đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn kiện sáng lập ra nó. Tổ chức hoàn toàn có ý riêng của mình, bởi vì nó sinh ra và tồn tại bằng sự gặp gỡ với những ý chí cá nhân của các thành viên của mình.
Những ngƣời theo quan điểm đồng ý thiết lập trách nhiệm hình sự của tổ chức cho rằng pháp nhân là một thực thể có thực (giống nhƣ thể nhân), có ý thức và có thể thực hiện hành vi của mình; và khi thực hiện hành vi thì nó cũng sẽ có thể có lỗi. Nhƣ vậy, tổ chức có thể tự quyết định một cách tự do và hoạt động theo những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó. Tổ chức đƣợc thành lập, hoạt động, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình. Tổ chức có ý thức, ý chí, mong muốn riêng của mình, đƣợc xử sự tự do và hƣởng quyền tự chủ của chủ thể có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy, có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đƣơng nhiên có thể bị xử lý về hình sự.
Trƣờng hợp áp dụng hình phạt đối với tổ chức thì thay cho hình phạt tử hình hoặc các hình phạt tƣớc hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với tổ chức phạm tội, những loại hình phạt khác đƣợc xây dựng trong luật hình sự tƣơng hợp hoàn toàn với bản chất các tổ chức phạm tội với mục đích làm cho nó phải chịu hình phạt về những gì tổ chức đã gây ra. Từ những lập luận trên, quan điểm ủng hộ tổ chức có thể là chủ thể chịu TNHS đã và đang ngày càng phát triển ở các nƣớc trên thế giới. Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia đã quy định trong luật hình sự tổ chức là chủ thể chịu TNHS. Việc thừa nhận tổ chức cũng là chủ thể chịu TNHS luôn đƣợc gắn với những điều kiện nhất định.
Một tổ chức phải thỏa mãn các điều kiện nhất định mới có thể trở thành chủ thể chịu TNHS. Thông thƣờng là các điều kiện sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, tổ chức phải thuộc phạm vi tổ chức là chủ thể của TNHS; Không phải tất cả các tổ chức đều có thể trở thành chủ thể chịu TNHS mà chỉ phạm vi tổ chức nhất định, có những đặc điểm nhất định mới đƣợc thừa nhận có thể là chủ thể chịu TNHS. Các quốc gia khác nhau thừa nhận phạm vi các tổ chức khác nhau có thể là chủ thể chịu TNHS. Trong khi Trung quốc xác định công ty, xí nghiệp, tổ chức, đoàn thể thuộc phạm vi tổ chức chịu TNHS [8, Điều 30] thì một loạt các quốc gia khác lại xác định phạm vi tổ chức khác trong đó có pháp nhân thuộc chủ thể chịu TNHS.
Ví dụ, theo Pháp là các pháp nhân (trừ Nhà nƣớc); theo Áo là pháp nhân, các công ty hợp danh, các hiệp hội vì lợi ích kinh tế châu âu và theo Thụy Sĩ là pháp nhân theo luật tƣ, pháp nhân theo luật công, các công ty, các doanh nghiệp tƣ nhân [33, tr82] Thứ hai, tổ chức phải thuộc phạm vi chủ thể của các tội danh mà tổ chức có thể phải chịu TNHS. Các quốc gia thừa nhận TNHS của tổ chức cũng xác định phạm vi các tội danh khác nhau mà chủ thể phải chịu TNHS. Ví dụ nhƣ Trung Quốc giới hạn tổ chức chỉ phải chịu TNHS về một số tội phạm đƣợc xác định rõ trong từng điều luật. Trong khi nhiều quốc gia khác lại không giới hạn mà xác định tổ chức có thể phải chịu TNHS về mọi tội phạm.
Thứ ba, tổ chức phải thỏa mãn các điều kiện chịu TNHS. Tổ chức phải chịu TNHS về các tội phạm khi có đủ các điều kiện nhất định. Các điều kiện này thƣờng là: Tội phạm đƣợc thực hiện nhân danh tổ chức và tội phạm đƣợc thực hiện vì lợi ích của tổ chức. Nhƣ vậy, tổ chức là chủ thể chịu TNHS đối với tội phạm đƣợc xác định tổ chức là chủ thể của tội phạm và đƣợc thực hiện nhân danh tổ chức, vì lợi ích của tổ chức.
Từ những phân tích trên có thể rút ra định nghĩa chung về chủ thể chịu TNHS nhƣ sau: Chủ thể chịu TNHS gồm người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi chịu TNHS hoặc tổ chức khi thỏa mãn các điều kiện luật định thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách có lỗi, bị luật hình sự cấm. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam 1. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực Sau Cách mạng tháng 8/1945, cùng với việc hình thành và phát triển đất nƣớc, hệ thống pháp luật hình sự cũng đƣợc hình thành và trải qua quá trình phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử.
Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 chịu ảnh hƣởng sâu sắc bởi các điều kiện lịch sử của đất nƣớc trong giai đoạn này. Giai đoạn này nƣớc ta chƣa có một đạo luật hình sự thống nhất, các quy phạm pháp luật hình sự đƣợc quy định trong nhiều văn bản khác nhau nhƣng chƣa có văn bản nào quy định về khái niệm TNHS hay chủ thể chịu TNHS. Trong những giai đoạn này, vấn đề xác định chủ thể chịu TNHS đã đƣợc ghi nhận trong các văn bản của Nhà nƣớc. Điều này tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ thành công của cuộc cách mạng cũng nhƣ bảo vệ chính quyền nhân dân còn non trẻ.