Tổng quan nghiên cứu

Thống kê tư pháp hình sự cho thấy hơn 70% các vụ án phức tạp trong giai đoạn điều tra và truy tố phát sinh vướng mắc liên quan trực tiếp đến việc xác định tư cách chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Phú Biền tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng các quy chuẩn về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa các dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể tội phạm, chỉ rõ những bất cập trong việc áp dụng điều kiện năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu chủ thể đặc biệt, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp khả thi. Phạm vi nghiên cứu bao quát thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực đến năm 2015, kết hợp đối chiếu lịch sử lập pháp từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại 4 quốc gia tiêu biểu gồm Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Đức.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học nhằm giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa do sai sót xác định chủ thể xuống dưới mức 1.5%, đồng thời tạo cơ sở lý luận vững chắc cho việc mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong tiến trình cải cách tư pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu thành tội phạm kinh điển của khoa học luật hình sự, trong đó xác định chủ thể là một trong bốn yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm. Bên cạnh đó, luận văn tiếp cận thuyết thực thể pháp nhân nhằm luận giải tính độc lập về ý chí, tài sản và hành vi của tổ chức trong các quan hệ pháp luật hình sự hiện đại. Mô hình nghiên cứu phân định chủ thể thành hai nhóm dấu hiệu cơ bản: dấu hiệu chung bao gồm năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định, kết hợp với các dấu hiệu đặc biệt về nhân thân.

Hệ thống 4 khái niệm trọng tâm được vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Năng lực trách nhiệm hình sự: Khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và khả năng điều khiển hành vi đó.
  • Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Mốc thời gian sinh học phản ánh mức độ trưởng thành về tâm sinh lý, được quy định tại hai ngưỡng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi trở lên.
  • Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Tình trạng kết hợp đồng thời giữa dấu hiệu y học và dấu hiệu tâm lý theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Chủ thể đặc biệt: Những cá nhân ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung còn phải mang thêm các dấu hiệu bắt buộc về chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp, quan hệ gia đình hoặc nhân thân xấu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp đa dạng gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2015, các văn bản hướng dẫn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao (như Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BQP-BLĐTBXH, Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC, Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC) và dữ liệu thực chứng từ hơn 120 bản án hình sự đã xét xử tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được áp dụng với cỡ mẫu 120 vụ án, chia thành 3 nhóm trọng điểm: 45 vụ án có tranh chấp về giám định tâm thần, 40 vụ án liên quan đến độ tuổi người chưa thành niên, và 35 vụ án về tội phạm có chủ thể đặc biệt. Phương pháp phân tích lịch sử, tổng hợp so sánh luật học và phân tích thực chứng án văn được lựa chọn nhằm đối chiếu sự tương thích giữa quy định trên văn bản với thực tiễn xét xử, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao trong suốt tiến trình nghiên cứu kéo dài 18 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thực tiễn áp dụng quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng trong công tác giám định pháp y tâm thần. Khoảng 18% các vụ án có yêu cầu giám định tâm thần xuất hiện tình trạng xung đột kết luận chuyên môn giữa cơ quan giám định cấp tỉnh và Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương. Điển hình như vụ án Nguyễn Hùng Chiến tại Tiền Giang gây thương tật 67% cho nạn nhân nhưng bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy do hai kết luận giám định mâu thuẫn về mức độ nhận thức của bị cáo. Nhiều đối tượng phạm tội nguy hiểm như vụ án Mai Đức Vượng tại Hải Phòng đã lợi dụng bệnh án động kinh di chứng có rối loạn tâm thần để được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nhằm tạm đình chỉ điều tra rồi tiếp tục chỉ đạo hoạt động tội phạm ngầm.

Thứ hai, công tác xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự còn tồn tại sai sót mang tính phương pháp luận. Khảo sát cho thấy khoảng 22% hồ sơ vụ án người chưa thành niên chỉ ghi năm sinh mà không xác định cụ thể ngày, tháng sinh, dẫn đến việc cơ quan tiến hành tố tụng tính "tuổi đến" thay vì tính "tuổi tròn", xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo theo nguyên tắc có lợi cho người chưa thành niên.

Thứ ba, sự thiếu vắng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân tạo ra khoảng trống pháp lý lớn. Trong khi hơn 80% các nước công nghiệp phát triển (như Đức, Nhật Bản theo Điều 142 Luật về hình phạt ô nhiễm môi trường, Trung Quốc theo Điều 30 Bộ luật Hình sự) đã luật hóa trách nhiệm hình sự của tổ chức, thì pháp luật Việt Nam thời kỳ này chỉ xử lý cá nhân, khiến các cơ quan tư pháp lúng túng khi xử lý các hành vi vi phạm môi trường và trật tự quản lý kinh tế quy mô lớn do các doanh nghiệp gây ra.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những bất cập trên bắt nguồn từ sự chuyển biến mau lẹ của nền kinh tế thị trường trong khi kỹ thuật lập pháp hình sự chưa theo kịp tính chất phức tạp của tội phạm tổ chức. Việc thiếu hụt các quy chuẩn chuyên ngành độc lập trong giám định tư pháp tâm thần khiến Hội đồng xét xử gặp khó khăn khi đánh giá chứng cứ.

So sánh với quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Điều 17 Bộ luật Hình sự Trung Quốc, các quốc gia này sử dụng kỹ thuật liệt kê chính xác các tội danh cụ thể mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm, thay vì quy định định tính theo loại tội "rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng" như Điều 12 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999. Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được trình bày trực quan thông qua Bảng phân loại 7 nhóm chủ thể đặc biệt và Biểu đồ so sánh giới hạn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự giữa 5 quốc gia, giúp làm nổi bật nhu cầu cấp thiết phải sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vào Bộ luật Hình sự: Hoàn thiện quy định xử lý hình sự đối với các tổ chức kinh tế phạm tội trong lĩnh vực môi trường và kinh tế, hướng tới mục tiêu bao quát 100% các vi phạm có tính chất pháp nhân; thời hạn hoàn thành trong giai đoạn 2015-2017; chủ thể thực hiện là Quốc hội và Ban soạn thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi.

  2. Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Sửa đổi Điều 12 Bộ luật Hình sự theo hướng liệt kê đích danh khoảng 28 tội danh cụ thể mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm, triệt tiêu 100% tình trạng diễn giải tùy tiện; lộ trình ban hành trong năm 2015; do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chủ trì.

  3. Chuẩn hóa quy trình giám định pháp y tâm thần và thành lập Hội đồng chuyên môn cấp quốc gia: Ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết triệt để sự mâu thuẫn giữa các kết luận giám định, rút ngắn thời gian xử lý các vụ án có dấu hiệu tâm thần phức tạp từ 24 tháng xuống dưới 6 tháng; thực hiện trong giai đoạn 2015-2016; do Bộ Y tế phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an thực hiện.

  4. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ: Triển khai 12 chương trình tập huấn hàng năm cho 100% Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên về kỹ thuật xác định tuổi tròn và phương pháp nhận diện 7 nhóm dấu hiệu chủ thể đặc biệt; thực hiện định kỳ từ quý I/2016 bởi Học viện Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật học: Khai thác hệ thống khung lý thuyết vững chắc, các phân tích so sánh luật học chuyên sâu giữa Việt Nam, Nga, Đức, Trung Quốc và Nhật Bản để phát triển đề tài nghiên cứu chuyên ngành.

  2. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án: Sử dụng công trình như một cẩm nang nghiệp vụ thực tiễn để tra cứu cách phân loại 7 nhóm chủ thể đặc biệt và chuẩn hóa kỹ thuật xác định độ tuổi, giúp hạn chế tối đa nguy cơ sai sót dẫn đến hủy án.

  3. Điều tra viên và Kiểm sát viên: Nắm vững các dấu hiệu tâm lý - y học của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, quy trình đánh giá kết luận giám định để kịp thời ngăn chặn các hành vi giả bệnh tâm thần trốn tránh trách nhiệm pháp lý.

  4. Chuyên gia lập pháp và cán bộ hoạch định chính sách: Tham khảo nguồn luận cứ thực chứng và các đề xuất hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân cùng mô hình phân loại tội phạm phục vụ công tác xây dựng luật.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam gồm những ai? Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm thể nhân (cá nhân con người cụ thể) có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Pháp nhân hoặc các tổ chức phi pháp nhân chưa được xem là chủ thể độc lập của tội phạm trong hệ thống pháp luật hình sự thời kỳ này.

  2. Người phạm tội trong tình trạng say rượu có được miễn trách nhiệm hình sự không? Căn cứ theo Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 1999, người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ. Do trước khi sử dụng chất kích thích họ có đầy đủ năng lực nhận thức và tự đặt mình vào trạng thái nguy hiểm nên lỗi thuộc về chủ thể.

  3. Khi hai kết luận giám định pháp y tâm thần mâu thuẫn nhau thì Tòa án xử lý như thế nào? Thực tiễn từ vụ án Nguyễn Hùng Chiến tại Tiền Giang cho thấy Hội đồng xét xử không được tự ý lựa chọn một kết luận nếu chưa làm rõ mâu thuẫn. Cơ quan tố tụng phải ra quyết định trưng cầu giám định lại ở cấp cao hơn hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung để đảm bảo tính khách quan toàn diện của vụ án.

  4. Chủ thể đặc biệt liên quan đến chức vụ, quyền hạn bao gồm những nhóm đối tượng nào? Căn cứ Điều 277 Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, nhóm này gồm 4 đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong lực lượng vũ trang; cán bộ quản lý trong doanh nghiệp nhà nước; và người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn nhất định khi thực hiện nhiệm vụ đó.

  5. Cách tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự được thực hiện ra sao khi không rõ ngày tháng sinh? Trường hợp không xác định được ngày sinh cụ thể thì ngày cuối cùng của tháng sinh được coi là ngày sinh; nếu không xác định được tháng sinh thì ngày 31 tháng 12 của năm sinh được coi là ngày sinh theo Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT nhằm áp dụng nguyên tắc có lợi cho người chưa thành niên.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi và cấu thành của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam.
  • Khảo cứu sâu sắc và rút ra nhiều bài học lập pháp giá trị từ 4 hệ thống pháp luật lớn trên thế giới gồm Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Đức.
  • Phân tích thực chứng các vướng mắc tố tụng nổi cộm qua hơn 120 bản án thực tế về giám định pháp y tâm thần và kỹ thuật tính tuổi tròn cho người chưa thành niên.
  • Xác lập hệ thống hóa 7 nhóm dấu hiệu nhận biết chủ thể đặc biệt, hỗ trợ đắc lực cho công tác định tội danh trong thực tiễn tư pháp.
  • Cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc chứng minh tính tất yếu của việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.

Công trình đóng góp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho quá trình hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự. Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng nghiên cứu sang hệ thống chế tài áp dụng riêng cho pháp nhân thương mại trong giai đoạn 2016-2020. Các nhà nghiên cứu, cán bộ tư pháp và bạn đọc quan tâm hãy tra cứu toàn văn luận văn để vận dụng sâu sắc vào hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn xét xử.