Luận văn thạc sĩ về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

1.2. Lịch sử quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam

1.2.1. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực

1.2.2. Từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực

1.3. Quy định của Bộ luật hình sự một số nước về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

1.3.1. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga

1.3.2. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

1.3.3. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Nhật Bản

1.3.4. Quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUY ĐỊNH VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BLHS VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1. Các dấu hiệu chung của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

2.2. Năng lực trách nhiệm hình sự

2.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

2.4. Dấu hiệu đặc biệt của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH NÀY

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

3.2. Thực tiễn áp dụng quy định về tình trạng không có năng lực chịu TNHS

3.3. Thực tiễn áp dụng quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

3.4. Thực tiễn áp dụng quy định về dấu hiệu đặc biệt của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

3.5. Phương hướng hoàn thiện quy định của BLHS về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

3.5.1. Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân và loại tội pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự

3.5.2. Các quy định về tuổi chịu TNHS

3.5.3. Phương hướng hoàn thiện quy định về dấu hiệu đặc biệt của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

3.5.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam

Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) là một trong những vấn đề cốt lõi trong luật hình sự Việt Nam. Việc xác định đúng chủ thể chịu TNHS không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động tố tụng. Theo quy định của Bộ luật hình sự, chủ thể chịu TNHS có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tùy thuộc vào các điều kiện nhất định.

1.1. Khái niệm chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

Chủ thể chịu TNHS được hiểu là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực pháp lý và đạt độ tuổi luật định để phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội. Điều này bao gồm việc nhận thức và điều khiển hành vi của mình theo quy định của pháp luật.

1.2. Lịch sử quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Bộ luật hình sự năm 1985 và các sửa đổi sau này đã có những quy định rõ ràng hơn về chủ thể chịu TNHS, đặc biệt là trong việc xác định độ tuổi và năng lực trách nhiệm.

II. Vấn đề và thách thức trong xác định chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

Mặc dù đã có những quy định rõ ràng, nhưng việc xác định chủ thể chịu TNHS vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như độ tuổi chịu TNHS, năng lực hành vi và trách nhiệm của pháp nhân vẫn còn nhiều tranh cãi trong thực tiễn.

2.1. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Độ tuổi chịu TNHS là một trong những vấn đề gây tranh cãi. Hiện nay, quy định về độ tuổi này chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xã hội, dẫn đến nhiều trường hợp không được xử lý đúng mức.

2.2. Năng lực hành vi và trách nhiệm của pháp nhân

Năng lực hành vi của cá nhân và trách nhiệm của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Việc quy định pháp nhân là chủ thể chịu TNHS đang là một vấn đề cần được xem xét và điều chỉnh.

III. Phương pháp xác định chủ thể chịu trách nhiệm hình sự hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả trong việc xác định chủ thể chịu TNHS, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu và phân tích cụ thể. Việc này không chỉ giúp làm rõ các quy định mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

3.1. Phân tích các quy định hiện hành

Phân tích các quy định hiện hành về chủ thể chịu TNHS giúp làm rõ những điểm mạnh và điểm yếu trong việc áp dụng pháp luật. Điều này cũng giúp các cơ quan chức năng có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này.

3.2. So sánh với các quốc gia khác

So sánh quy định về chủ thể chịu TNHS của Việt Nam với các quốc gia khác sẽ giúp rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp cải thiện quy định hiện hành.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

Việc áp dụng các quy định về chủ thể chịu TNHS trong thực tiễn đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong xử lý tội phạm.

4.1. Thực tiễn áp dụng quy định về chủ thể chịu TNHS

Thực tiễn áp dụng quy định về chủ thể chịu TNHS cho thấy nhiều trường hợp chưa được xử lý đúng mức, dẫn đến sự bất công trong pháp luật. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

4.2. Kết quả nghiên cứu và đề xuất cải tiến

Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có những cải tiến trong quy định về chủ thể chịu TNHS, đặc biệt là trong việc xác định độ tuổi và năng lực hành vi. Các đề xuất này sẽ giúp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

V. Kết luận và tương lai của chủ thể chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam

Chủ thể chịu TNHS là một vấn đề quan trọng trong luật hình sự Việt Nam. Việc hoàn thiện các quy định về chủ thể chịu TNHS không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

5.1. Tương lai của quy định về chủ thể chịu TNHS

Tương lai của quy định về chủ thể chịu TNHS tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội và nhu cầu thực tiễn. Cần có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với tình hình mới.

5.2. Đề xuất hướng đi mới cho nghiên cứu

Đề xuất hướng đi mới cho nghiên cứu về chủ thể chịu TNHS cần tập trung vào việc cải thiện quy định hiện hành và nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm chủ thể chịu trách nhiệm hình sự Khái niệm chủ thể chịu TNHS là một khái niệm tƣơng đối phức tạp trong luật hình sự. Khái niệm này đƣợc quan niệm xuất phát từ khái niệm chủ thể của tội phạm. Trong khoa học pháp lý, khái niệm chủ thể của tội phạm đã đƣợc nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ ở các khía cạnh khác nhau.

Chủ thể của tội phạm đƣợc coi là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, là yếu tố không thể thiếu trong việc xác định tội phạm. Hiện nay trên thế giới quan niệm truyền thống và phổ biến cho rằng chủ thể của tội phạm hay nói cách khác là chủ thể chịu TNHS là cá nhân con ngƣời cụ thể. Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm đó còn quan điểm khác khi cho rằng chủ thể của tội phạm hoặc chủ thể chịu TNHS không những chỉ là cá nhân mà còn có thể là tổ chức (có thể là pháp nhân hoặc loại hình tổ chức khác không phải là pháp nhân). Quan điểm thứ hai này đang ngày càng đƣợc thừa nhận rộng rãi và đƣợc thể hiện trong BLHS của nhiều quốc gia trên thế giới.

Quan niệm cho rằng chủ thể chịu TNHS chỉ có thể là các cá nhân, con ngƣời cụ thể đã tồn tại rất lâu trong lịch sử của khoa học luật hình sự. Xuất phát điểm của quan niệm này là việc coi tội phạm theo nghĩa truyền thống chỉ có thể do con ngƣời cụ thể thực hiện. Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trƣớc tiên phải là chủ thể của tội phạm. Mà theo khoa học luật hình sự thì "Chủ thể của tội phạm là ngƣời có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể” [11, tr122].

Nhƣ vậy, cũng nhƣ chủ thể của tội phạm, một ngƣời trở thành chủ thể chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn những điều kiện nhất định. Thông thƣờng, về cơ bản là các điều kiện nhƣ là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời thực hiện hành vi đƣợc luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS. Năng lực trách nhiệm hình sự là một điều kiện của chủ thể chịu TNHS. Ngƣời cụ thể có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm và mới có thể phải chịu TNHS.

Năng lực TNHS là khả năng nhận thức (ý nghĩa xã hội của hành vi) và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đó là khả năng tâm lý của con ngƣời, không phụ thuộc vào quy định của pháp luật. Điều kiện thứ hai của chủ thể chịu TNHS là đạt độ tuổi chịu TNHS. Lý luận về tuổi chịu TNHS dựa trên sự nhận thức rằng không phải tất cả mọi ngƣời đƣợc sinh ra là đã trở thành ngƣời có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, tức là đã có năng lực TNHS.

Một ngƣời từ khi đƣợc sinh ra muốn có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi phải trải qua một quá trình sinh sống nhất định phù hợp với quá trình trƣởng thành và phát triển của trạng thái cơ thể cũng nhƣ trạng thái tâm lý. Có nghĩa là phải trải qua những năm tháng nhất định và đạt độ tuổi nhất định thì con ngƣời mới có đủ năng lực TNHS. Tuổi chịu TNHS đƣợc xác định bằng một mốc thời gian nhất định, mà cá nhân đó đạt đƣợc. Từ sự phân tích về các điều kiện của chủ thể chịu TNHS là cá nhân có thể đƣa ra định nghĩa về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự nhƣ sau: Chủ thể chịu TNHS theo là người cụ thể phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong luật hình sự khi có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS.

Diễn đạt một cách khác có thể quan niệm chủ thể chịu TNHS là ngƣời cụ thể khi thỏa mãn các điều kiện nhất định. Bên cạnh quan niệm truyền thống cho rằng chủ thể chịu TNHS là cá nhân con ngƣời cụ thể là quan điểm mở rộng phạm vi chủ thể chịu TNHS khi cho rằng chủ thể chịu TNHS không chỉ là cá nhân mà còn có thể là tổ chức. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát điểm của quan niệm này là từ việc xác định tổ chức là một thực thể độc lập, đƣợc thành lập bởi các cá nhân theo trình tự, thủ tục luật định, hoạt động của tổ chức đƣợc thực hiện bởi bộ máy vận hành là sự tập hợp của nhiều ngƣời, tổ chức chỉ theo đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn kiện sáng lập ra nó. Tổ chức hoàn toàn có ý riêng của mình, bởi vì nó sinh ra và tồn tại bằng sự gặp gỡ với những ý chí cá nhân của các thành viên của mình.

Những ngƣời theo quan điểm đồng ý thiết lập trách nhiệm hình sự của tổ chức cho rằng pháp nhân là một thực thể có thực (giống nhƣ thể nhân), có ý thức và có thể thực hiện hành vi của mình; và khi thực hiện hành vi thì nó cũng sẽ có thể có lỗi. Nhƣ vậy, tổ chức có thể tự quyết định một cách tự do và hoạt động theo những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó. Tổ chức đƣợc thành lập, hoạt động, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình. Tổ chức có ý thức, ý chí, mong muốn riêng của mình, đƣợc xử sự tự do và hƣởng quyền tự chủ của chủ thể có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy, có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đƣơng nhiên có thể bị xử lý về hình sự.

Trƣờng hợp áp dụng hình phạt đối với tổ chức thì thay cho hình phạt tử hình hoặc các hình phạt tƣớc hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với tổ chức phạm tội, những loại hình phạt khác đƣợc xây dựng trong luật hình sự tƣơng hợp hoàn toàn với bản chất các tổ chức phạm tội với mục đích làm cho nó phải chịu hình phạt về những gì tổ chức đã gây ra. Từ những lập luận trên, quan điểm ủng hộ tổ chức có thể là chủ thể chịu TNHS đã và đang ngày càng phát triển ở các nƣớc trên thế giới. Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia đã quy định trong luật hình sự tổ chức là chủ thể chịu TNHS. Việc thừa nhận tổ chức cũng là chủ thể chịu TNHS luôn đƣợc gắn với những điều kiện nhất định.

Một tổ chức phải thỏa mãn các điều kiện nhất định mới có thể trở thành chủ thể chịu TNHS. Thông thƣờng là các điều kiện sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, tổ chức phải thuộc phạm vi tổ chức là chủ thể của TNHS; Không phải tất cả các tổ chức đều có thể trở thành chủ thể chịu TNHS mà chỉ phạm vi tổ chức nhất định, có những đặc điểm nhất định mới đƣợc thừa nhận có thể là chủ thể chịu TNHS. Các quốc gia khác nhau thừa nhận phạm vi các tổ chức khác nhau có thể là chủ thể chịu TNHS. Trong khi Trung quốc xác định công ty, xí nghiệp, tổ chức, đoàn thể thuộc phạm vi tổ chức chịu TNHS [8, Điều 30] thì một loạt các quốc gia khác lại xác định phạm vi tổ chức khác trong đó có pháp nhân thuộc chủ thể chịu TNHS.

Ví dụ, theo Pháp là các pháp nhân (trừ Nhà nƣớc); theo Áo là pháp nhân, các công ty hợp danh, các hiệp hội vì lợi ích kinh tế châu âu và theo Thụy Sĩ là pháp nhân theo luật tƣ, pháp nhân theo luật công, các công ty, các doanh nghiệp tƣ nhân [33, tr82] Thứ hai, tổ chức phải thuộc phạm vi chủ thể của các tội danh mà tổ chức có thể phải chịu TNHS. Các quốc gia thừa nhận TNHS của tổ chức cũng xác định phạm vi các tội danh khác nhau mà chủ thể phải chịu TNHS. Ví dụ nhƣ Trung Quốc giới hạn tổ chức chỉ phải chịu TNHS về một số tội phạm đƣợc xác định rõ trong từng điều luật. Trong khi nhiều quốc gia khác lại không giới hạn mà xác định tổ chức có thể phải chịu TNHS về mọi tội phạm.

Thứ ba, tổ chức phải thỏa mãn các điều kiện chịu TNHS. Tổ chức phải chịu TNHS về các tội phạm khi có đủ các điều kiện nhất định. Các điều kiện này thƣờng là: Tội phạm đƣợc thực hiện nhân danh tổ chức và tội phạm đƣợc thực hiện vì lợi ích của tổ chức. Nhƣ vậy, tổ chức là chủ thể chịu TNHS đối với tội phạm đƣợc xác định tổ chức là chủ thể của tội phạm và đƣợc thực hiện nhân danh tổ chức, vì lợi ích của tổ chức.

Từ những phân tích trên có thể rút ra định nghĩa chung về chủ thể chịu TNHS nhƣ sau: Chủ thể chịu TNHS gồm người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi chịu TNHS hoặc tổ chức khi thỏa mãn các điều kiện luật định thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách có lỗi, bị luật hình sự cấm. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử quy định về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam 1. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực Sau Cách mạng tháng 8/1945, cùng với việc hình thành và phát triển đất nƣớc, hệ thống pháp luật hình sự cũng đƣợc hình thành và trải qua quá trình phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử.

Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 chịu ảnh hƣởng sâu sắc bởi các điều kiện lịch sử của đất nƣớc trong giai đoạn này. Giai đoạn này nƣớc ta chƣa có một đạo luật hình sự thống nhất, các quy phạm pháp luật hình sự đƣợc quy định trong nhiều văn bản khác nhau nhƣng chƣa có văn bản nào quy định về khái niệm TNHS hay chủ thể chịu TNHS. Trong những giai đoạn này, vấn đề xác định chủ thể chịu TNHS đã đƣợc ghi nhận trong các văn bản của Nhà nƣớc. Điều này tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ thành công của cuộc cách mạng cũng nhƣ bảo vệ chính quyền nhân dân còn non trẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ