CHƯƠNG I: NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG PHONG TRÀO VĂN HOÁ PHỤC HƯNG 1. Nguyên nhân ra đời chủ nghĩa nhân văn. Chủ nghĩa nhân văn là gì. Thuật ngữ Chủ nghĩa nhân văn (Humanisme) bắt nguồn từ chữ Humanus, gốc Latin có nghĩa là con người.
Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này chỉ thái độ tôn trọng phẩm giá của con người dưới mọi màu da và trong mọi nền văn minh. Nó đòi hỏi con người không bị hạ xuống hàng súc vật và không bị bất cứ một thứ thánh thần nào đè bẹp. Chủ nghĩa nhân văn hay còn gọi là chủ nghĩa nhân bản. Chủ nghĩa này lấy con người làm gốc, tức là lấy tự thân con người chứ không phải là lấy cái gì khác làm trung tâm.
Mặt khác chủ nghĩa nhân văn còn là tinh thần yêu thương con người, đồng cảm với nỗi khổ cũng như niềm vui sướng, hạnh phúc của con người. Nó thể hiện ước mơ, khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đồng thời nó lên án, tố cáo, đả kích, đấu tranh những thế lực đã đàn áp con người để bảo vệ cho quyền sống của con người. Có thể nói chủ nghĩa nhân văn là chủ nghĩa vì con người.
Theo nghĩa lịch sử thì thuật ngữ Chủ nghĩa nhân văn chỉ một trào lưu tri thức của thời đại Phục Hưng, theo đó có “Hai điều thuộc về thời đại này hơn bất kỳ một thời đại nào trước nó: Sự khám phá thế giới, Sự khám phá con người”. Ở thế kỉ XVI Montaigne quan niệm một nhà nhân văn chủ nghĩa tức là một giáo sư ngữ pháp học hoặc một nhà thông thái, nghĩa là một người có vốn ngôn ngữ và văn hoá cổ. Hạt nhân của Chủ nghĩa nhân văn là sự phát hiện lại con người. Con người là một sinh vật đặc biệt.
Là sinh vật có nghĩa là có cùng cơ cấu sinh, lão, bệnh, tử như mọi sinh vật khác. Là sinh vật đặc biệt nghĩa là có những 7 nhu cầu về thẩm mĩ, về trái tim, có những kinh nghiệm cụ thể của nó. Những cấm đoán, kiêng kị tôn giáo do vậy, là xa lạ với bản tính con người. Chủ nghĩa nhân văn đòi hỏimỗi người phải là một cá nhân.
Khi khẳng định con người có quyền được hưởng thành quả lao động và công sức của mình, khi khẳng định vinh quang không phải là vật kế thừa, chủ nghĩa nhân văn đã giáng một đòn quyết liệt vào chế độ đẳng cấp cào bằng trung thế kỉ. Khi đề cao trách nhiệm cá nhân, nỗ lực cá nhân, sức mạnh vươn tới hình mẫu con người hoàn hảo, chủ nghĩa nhân văn đã mở đường cho sự xuất hiện những nhân cách vĩ đại. Cuộc đời không phải là những mảnh vụn, những lầm lẫn, con người không phải là ngọn nến trước cơn gió mạnh mà là tác giả của số phận của mình. Những phát hiện này đã tấn công vào những tín điều vốn đặt con người vào bàn tay của Thượng đế, vào những thứ bậc tiền định cả trong vũ trụ lẫn trong cuộc đời.
Nó là khát vọng và viễn cảnh tự do của con người, tuy đó cũng là một viễn cảnh mong manh, đáng ngờ vực. Chủ nghĩa nhân văn là sản phẩm của một thời đại lịch sử – cụ thể ở thời đại Phục Hưng, thời đại của những con người khổng lồ, thì nó là sự kết tinh cao nhất tinh thần của thời đại, thông qua sự hướng về thế giới cái đẹp Cổ Đại để bộc lộ khát vọng tự do, khát vọng được giải phóng khỏi mọi ràng buộc về mặt tinh thần và thể xác. Nhà nghiên cứu V. Vonghin của Liên Xô trong bài “ Chủ nghĩa nhân văn và Chủ nghĩa xã hội” đã viết: “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan điểm đạo đức và chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên, kì ảo từ những nguyên lý ngoài đời sống của nhân loại mà từ con người tồn tại trên mặt đất với những nhu cầu, những khả năng trần thế và hiện thực của nó và những nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải được phát triển đầy đủ, phải được thoả mãn”.
Các nhà nhân văn, những người luôn đi đầu trong phong trào văn hoá Phục Hưng đã tiếp thu truyền thống tôn trọng con người, truyền thống “Con người sánh tựa thần linh” của thời Cổ Đại. Câu châm ngôn “Con người là kiểu mẫu và kích 8 thước để đo lường vạn vật” của nhà triết học Prôtagôrat, trở thành thành khẩu hiệu dẫn đường cho mọi hoạt động của thời đại mới. Vì vậy những gì phù hợp với con người, cổ vũ cho con người, tôn vinh con người thì được đề cao. Quan niệm mới về con người tạo ra sức mạnh chiến thắng của chủ nghĩa nhân văn.
Nó bênh vực cho quyền được sống, được làm người, nó cho phép phát huy mọi khả năng của con người nhằm từng bước hoàn thiện và thừa nhận con người có khả năng tạo ra hạnh phúc cho chính nó. Tình yêu được khẳng định với mọi giá trị nhân đạo của nó và trở thành một đề tài lớn của văn hoá Phục Hưng. Khẳng định tình yêu chân chính cũng là khẳng định con người, khẳng định cuộc sống của con người trần thế. Chủ nghĩa nhân văn còn được thể hiện rõ nét trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.
Chủ nghĩa nhân văn là tiếng nói đòi giải phóng con người khỏi thiên nhiên, khỏi mọi ràng buộc khổ hạnh, khỏi mọi ách áp bức, chống lại chủ nghĩa cấm dục. Nó lên tiếng bênh vực cho con người. Con người không chỉ đẹp qua bộ xương, linh hồn siêu thoát sang thế giới bên kia mà còn đẹp bởi hệ thống cơ bắp khoẻ mạnh, làn da, ánh mắt, nụ cười, bởi sức khoẻ và sự sáng tạo phong phú. Nguyên nhân ra đời của chủ nghĩa nhân văn 1.
Về kinh tế Thế kỉ XIV, XV, châu Âu nằm dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của giáo hội Thiên Chúa giáo. Bất kể ai hoài nghi hay chỉ trích Giáo Hoàng đều bị coi là “Dị đoan” và bị bắt, chịu sự tra khảo, nhục hình, thậm chí còn bị trục xuất và bị thiêu sống. Một số người chống lại chế độ chuyên chế phong kiến, vạch trần sự đen tối trong Giáo Hội kể cả các nhà khoa học tiến bộ thời đó đều bị toà án kết tội. Sự tiến bộ về kinh tế, xã hội đều bị trở ngại 9 Cũng trong thời kỳ này, phương thức sản xuất Tư Bản cũng đã bắt đầu hình thành và phát triển.
Những mầm mống của quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghĩa đã ra đờivà phát triển. Trong các quốc gia phát triển lúc đó (Ý, Anh, Pháp…) nền công thương nghiệp phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt từ thế kỉ XV trở đi những phát kiến địa lý và những phát minh khoa học đã mở ra một chân trời mới cho sự phát triển của công thương nghiệp. Quá trình tích luỹ nghuyên thuỷ Tư Bản Chủ Nghĩa đã diễn ra, có nơi rất mạnh mẽ (Nước Anh).
Việc tích luỹ Tư Bản Chủ Nghĩa và phát triển công thương nghiệp làm cho kinh tế, chính trị, văn hoá của các thành thị ở châu Âu cũng phát triển nhộn nhịp. Sự ra đời của quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghĩa đã có tác động lớn đến sinh hoạt xã hội, mặc dù quan hệ sản xuất này còn ở phạm vi nhỏ hẹp, nhưng nó đã thúc đẩy sức sản xuất xã hội phát triển và làm cho quan hệ sản xuất phong kiến càng lâm vào tình trạng khủng hoảng. Cùng với quá trình phát triển công thương nghiệp và tích luỹ Tư Bản Chủ Nghĩa, tầng lớp thị dân cũng phát triển dần thành giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản ra đời trong lòng xã hội phong kiến là một nhân tố mới mẻ trong kết cấu các giai cấp xã hội.
Tuy cũng là giai cấp bóc lột nhưng phương thức bóc lột của giai cấp tư sản khác với phong kiến về phương thức bóc lột, về lối sống và nếp suy nghĩ. Vì vậy ngay từ đầu khi giai cấp tư sản ra đời thì mâu thuẫn giữa hai giai cấp này đã bắt đầu xuất hiện. Giai cấp tư sản thấy phương thức bóc lột và lối sống của phong kiến là một trở lực lớn trên con đường phát triển kinh tế của mình. Trong khi đó, giai cấp phong kiến lại tăng cường bóc lột dã man quần chúng nhân dân, thuế má, lao dịch ngày càng tăng.
Tuy nhiên đây là giai đoạn đầu cho nên kinh tế cũ giai cấp tư sản vẫn còn nhỏ hẹp, đó là nền kinh tế thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sở hữu thuộc về cá nhân các nhà tư sản. Điều đó được thể hiện qua các công trường thủ công đơn giản theo kiểu Tư Bản Chủ Nghĩa. Nền kinh tế này đòi hỏi xác lập quyền tư hữu tài sản cho con người. 10 Công trường thủ công là hình thức sản xuất mang tính chất Tư Bản Chủ Nghĩa đầu tiên trong lĩnh vực công nghiệp.
Có hai loại chính: Công trường thủ công phân tán và công trường thủ công tập trung. Công trường thủ công phân tán gắn liền với hoạt động của lái buôn bao mua. Lái buôn bao mua cung cấp nguyên liệu sản xuất, trang bị công cụ, điều kiện sản xuất, bao đầu ra cho sản phẩm. Tuy loại công trường này mang hình thức sản xuất nhỏ nhưng trong đó có sự phân công lao động tỉ mỉ.
Nó là hình thức phôi thai của nền công nghiệp Tư Bản Chủ Nghĩa. Loại công trường thứ hai là công trường tập trung. Đứng đầu là những người thợ thủ công khá giả, có công xưởng rộng rãi, họ bỏ tiền ra thuê công nhân làm thuê. Các công trường này được áp dụng và cải tiến khoa hoạ – kĩ thuật liên tục.
Vì vậy năng suất và chất lượng sản phẩm được phát triển liên tục. Có thể nói sự ra đời của các công trường thủ công đặc biệt là công trường thủ công tập trung là đặc trưng quan trọng trong sự hình thành của Chủ Nghĩa Tư Bản. Tuy nhiên sự ra đời mầm mống chủ nghĩa tư bản, đòi hỏi tư hữu về tư liệu sản xuất này lại vấp phải sự kháng cự, chống đối, đàn áp rất mãnh liệt của chế độ phong kiến. Các lãnh chúa thường uỷ quyền cho ngững đại diện của mình đến quản lý thành phố, đồng thời có rất nhiều quyền đối với thành phố như: Quyền tư pháp, quyền thu thuế, quyền trưng dụng ngựa để phục vụ cho những việc cần thiết.
Sự bóc lột và hạch sách của lãnh chúa không ngừng tăng lên. Trong khi đó ở các công trường thủ công, Ở các thành thị và các tổ chức phường hội thì nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp của tư sản cũng đang phát triển mạnh nhưng lại bị kìm nén.